Friday, November 19, 2010

Do Duc: Hà nội của ta

Hà nội thời thuộc Pháp                                         

Hà nội thời thuộc ta
 
doduc

Hôm mới rồi cuốc bộ qua các phố mới lại thấy lại cái thi vị Hà Nội xưa mốc. Nhưng khổ! cái thi vị này lại là cái đau đầu của các nhà hoạch định chính sách phố phường
Không tìm ra lối thoát. Cuối cùng chỉ còn một biên pháp bất lực: Cấm. Cấm  xả rác, cấm đái bậy, cấm hàng rong quán cóc…Chỉ còn cấm và cấm…
Hà nội là Hà Nội phố thị,  giờ vẫn thế, vẫn phố lẫn làng và lẫn cả chợ. Nó không giống như bất cứ thủ đô hành chính nào trên thế giới.
Có một thực tế trong giới quan chức Hà Nộichúng ta bên ngoài complet càvạt, nhưng bên trong vẫn còn nhiều thói sống thị dân và chưa gột sạch mùi bùn thôn quê, có dịp thì vênh vang, hết thời thì cụp mặt, chẳng ai bảo cũng tự biết đi nhẹ nói khẽ. Rất sợ bộc lộ suy nghĩ thật của mình. Thích tham nhũng hơn làm việc, còn làm việc thì đại khái hoặc chỉ năng nổ khi thấy việc có thể kiếm được tí chút
 Những dòng vừa rồi không phải lạc đề mà là để quành lại câu chuyện cấm một cái qui luật rất hay có ở ta. Đó là thái độ gia trưởng, quyền huynh thế phụ xâm thực vào công việc hành chính rất nặng nề.
Rồi sẽ có một ngày  chẳng cần lệnh cấm mà hàng rong quán cóc Hà Nội sẽ biến mất như trong truyện cổ tích cho mà xem, tôi tin chắc như vậy. Nhưng không phải bây giờ! Bây giờ có cấm nó vẫn cứ tái diễn. Cuộc sống nó vận hành theo qui luật nước chảy chỗ trũng mà, ngăn be chỉ là chuyện đối phó nhất thời. Cấm chỉ là nhặt sâu trên lá chứ không phải diệt trứng từ ổ. Nên cứ vướng là cấm thì  có khác gì ném đá ao bèo đâu.
 Hà nội bây giờ còn nhiều cái ngứa mắt lắm. Sáng trưa chiều tối bất cứ lúc nào vẫn có thể gặp một anh chàng béo quay cởi trần ngồi như con cóc trước nhà  xỉa tăm như xung quanh mình chẳng có ai no nê hoặc một anh chàng quần đùi may ô đánh xe dạo phố…Ở công sở cũng còn nhiều những công bộc sống cắp ô quen nói toàn điều quan trọng, nổ lung tung, hoặc thỉnh thoảng đốt đống rơm này đống rơm khác lên như trong ca dao. Tôi đứng trước chợ Đồng Xuân nhìn cái trán chợ cũ được giữ lại (giống cái di tích Hỏa Lò còn tí) hệt như một cố nông nhặt được cái cà vạt cài lên cổ. Bức tranh phố xá xây nêm tưởng là đổi thay mà hóa lem nhem.. Nên  bao nhiêu là văn bản để nắn mãi mà chẳng thể khá hơn.
  Dưới một cây xà cừ to trước chợ Đồng Xuân, tôi thấy có  ba  bà, mỗi bà một góc. Họ lấy cây làm chỗ dựa, lấy tán lá làm mái che, quay ra hướng nào thì đó là mặt đường. Bà bán nước chè có mấy cái ghế nhựa lồng vào nhau, chiếc ấm tích có giỏ bồ tự tạo bằng mút, loằng ngoằng dây chằng và hộp kính đựng thuốc lá điếu. Phía bà già áo cánh trắng quần thâm thì có cái làn nhựa bán giầu vỏ, đồ mã cùng hương đèn mà nhìn vốn  thì thấy quá hẻo. Phía nữa là cô bán chè gánh, cũng vài ba ghế nhựa gài vào quang, mặt giấu kín sau nón. Chỉ thoáng công an là tót rất nhanh. Lại tất cả trên tay, trên vai như đang di chuyển, lại vô can! Một gốc cây thành ba quán hàng. Đã không đụng hàng thì ba bà lại giúp nhau cảnh giới. Họ tồn tại vào thế chân kiềng vững chắc
Hà Nội của ta là thế, vẫn là phố thị, dựa vào nhau để sống. Vậy sao có thể dẹp cái phố thị khi cuộc sống của họ còn cần đến cách buôn cóc để tồn tại.
 Hà Nội của ta chỉ thay đổi khi kinh tế đất nước ta cất cánh khỏi đường băng . Lúc ấy nó sẽ tự phải thay đổi. Còn sự cưỡng bức bây giờ của các công bộc thì không  khác mấy con dã tràng xe cát biển đông

Thursday, November 18, 2010

Phan Hoài Nam - Từ video công an bắt gái mại dâm, nghĩ về Nhân Quyền

Phan Hoài Nam
Tiếng khóc nức nở của cô gái ở đoạn cuối video clip là một tiếng chuông báo động về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Tiếng khóc làm nhói lòng những ai còn có chút tình người…
Trong một đoạn clip dài 1 phút 36 giây về cảnh công an Việt Nam bắt và lập biên bản 2 cô gái trong tình trạng lõa thể, ngoài ra còn có những lời lẽ và cử chỉ hết sức côn đồ:
0:07 – Con này mày đứng dậy tao chụp kiểu ảnh, nhanh, mày ấy, đứng dậy. 0:16 – Đứng dậy, đứng ngữa mặt lên, ngữa mặt lên, dơ hai tay ra, dạng hai tay ra hai bên, nhanh lên, ơ con này dang hai tay ra.
0:38 - Nhìn vào đây, quay mặt vào đây, dang hai tay ra, đm, quay mặt vào đây, chả nhìn thấy cái đ… gì .
1:03 – Đứng dậy, đứng sát vào tường, mày ấy, đứng dậy đứng sát vào tường kia kìa.
1:32 – Mày khóc cái gì?
Nhìn chung dư luận trong vài ngày vừa qua đều hết sức bất bình về hành vi vô văn hóa của nhóm công an được cho là đang thi hành luật pháp. Nhưng điều làm nhiều người đau xót và cảm thương đó chính là hình ảnh của hai cô gái xuất hiện trong clip.
Riêng quan điểm của cá nhân tôi, tôi rất tôn trọng công việc của hai cô, cũng như tất cả những cô gái Việt Nam đang hành nghề mại dâm ở trong và ngoài nước, bởi vì:
- Các cô biết sống bằng sức lao động của mình, cho dù đó là hình thức lao động tình dục vẫn chịu nhiều cái nhìn khắt khe của xã hội nhưng ai dám nói công việc đó là dễ dàng? Muốn kiếm được tiền đều phải đổ mồ hôi sôi nước mắt như nhau cả, các cô vẫn đáng trân trọng hơn những kẻ bá quyền đang ngồi phè phởn trên cao tham nhũng đục khoét tiền thuế của nhân dân, rút tỉa xương máu của đồng bào.
- Các cô là những nạn nhân của chế độ này, một nhà nước không biết phát triển kinh tế và tình trạng tham nhũng tràn lan đã khiến chênh lệch giàu nghèo quá cao và một bộ phận lớn người dân bị đẩy vào con đường bế tắc, một nhà nước cố tình dùng bộ máy giáo dục và tuyên truyền ngu dân hóa để dễ bề cai trị.
Tiếng khóc nức nở của cô gái ở đoạn cuối clip là một tiếng chuông báo động về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Tiếng khóc làm nhói lòng những ai còn có chút tình người.
Xét theo bản TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua và công bố theo Quyết nghị 217 A (III) ở Paris vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, thì lực lượng công an này đã vi phạm vào điều 1, 3, 5, 11a, và 12 trong đó ghi rõ:
Ðiều 1 [Nhân phẩm; Tự do và Bình đẳng; Tình anh em]: Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và nhân quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trong tinh thần anh em.
Ðiều 3 [Quyền được sống, có tự do và an toàn]:
Tất cả mọi người đều có quyền được sống, quyền có tự do và an toàn cá nhân.
Ðiều 5 [Cấm tra tấn]:
Không ai có thể bị tra tấn hoặc bị đối xử hay bị bắt chịu hình phạt một cách dã man, vô nhân đạo hay nhục nhã.
Ðiều 11 [Quyền được xem là vô tội và cấm hồi tố]:
(a) Mỗi người, khi bị cáo buộc về hành vi phạm tội hình sự, có quyền đòi hỏi được xem là vô tội cho đến khi họ bị một toà án mở phiên xử công khai, trong đó họ có đủ mọi điều kiện để biện hộ, kết án theo đúng luật pháp.
Ðiều 12 [Quyền riêng tư; Bảo vệ danh dự]:
Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời sống riêng, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ trước những xâm phạm hoặc xúc phạm như vậy.
Ở Việt Nam hiện nay hầu hết mọi người đều rất mù mờ về nhân quyền, đơn giản bởi vì chế độ cộng sản khống chế bộ máy giáo dục và truyền thông để làm cho con người trong xã hội đó mất đi khả năng suy nghĩ độc lập khi tiếp nhận thông tin. Và không chỉ có hai cô gái trong clip này mà hơn 80 triệu người dân Việt Nam đang bị xâm hại nhân quyền mà rất ít người nhận ra.
Và khi mà một cá nhân chưa nhận ra được mình có những quyền lợi gì thì làm sao có thể đứng lên đòi hỏi quyền lợi cho cả một dân tộc. Cho nên tiến trình canh tân đất nước phải bắt đầu bằng những cá nhân biết tự canh tân chính mình.
Dưới đây tôi xin đính kèm bản TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ mọi người có thể dành chút thời gian suy ngẫm xem mình đã và đang bị mất đi những quyền nào, và sẽ đòi lại bằng cách nào.
18-11-2010
Phan Hoài Nam
Viết riêng cho Dân Làm Báo

Wednesday, November 17, 2010

Đứng trên vai người khổng lồ có sướng không ?


 

Salvadore Dalí                                 Cái chết của Nguyễn Văn Vĩnh (tranh NĐĐ)
Hôm qua nhân tán dóc với bác NS về chủ đề Dalí mà bác sắp trình làng, mình có mention một big fan (quạt nhớn) của S. Dalí là bác NĐĐ cựu NGU alumni hiện đang sống ở Japan. Bác NĐĐ vẽ cũng được được (về kỹ thuật sơn dầu) về ý tưởng bác ấy "bê" nguyên xi lối vẽ của Dalí vào tranh của mình, chỉ thay đổi nhân vật và bối cảnh,...tuy vậy với những ai chưa xem Dalí thì bác "Đăng Văn Đăng" cũng gây ấn tượng phết, nhưng thực chất nhìn kỹ lại thì tranh của bác Đăng Văn Đăng cũng chỉ là một hình thái "tự nhân bản" như tranh Phái Phố "dzỏm", một kiểu "tranh Bờ Hồ" (souvenir) cao cấp (vì dùng sơn hảo hạng và tay vẽ có nghề), nhưng nét sáng tạo hơi bị thiếu vắng, mặc dù bác Đăng văn Đăng cố tạo những ý tưởng lạ như chân dung Nguyễn Huy Thiệp ngồi giữa những nhân vật của mình, chân dung cụ Nguyễn Văn Vĩnh bay lơ lửng trên không (Cái chết bí ẩn) có Cố đạo Bá Đa Lộc đứng cạnh vv...vv. Bác Đăng Văn Đăng có thể là thầy giáo dậy vẽ vào hạng cừ nhưng chưa thể xếp bác vào hàng ngũ những Master ở VN.
Có lần bác NĐĐ trả lời phỏng vấn về phong cách của bác, bác thừa nhận có kế thừa và phát huy tinh thần Đali với phương châm: "Đứng trên vai người khổng lồ" ... không biết đứng trên vai người khổng lồ có sướng không?  Muốn biết xin đọc truyện tiếu lâm sau đây:
Ngày xửa ngày xưa có đôi bạn Gấu và Thỏ, rất thân thiết, vì Thỏ nhỏ nên Gấu hay cho trèo lên vai Gấu, Thỏ thấy được đứng trên vai Gấu rất cao khoái quá hét to: Ta đang đứng trên vai người khổng lồ, mọi người có nghe thấy không?
Mọi loài kính phục lắm, trầm trồ khen ngợi, Thỏ sướng lắm... vãi mấy giọt nước tiểu trên vai Gấu, bèn hỏi nhỏ: ban Gấu có phiền lòng vì lông dính nước tiểu không? Gấu thật thà chất phác bảo  Không sao không sao, chuyện nhỏ như con thỏ ý mà ...
Lúc sau Gấu đi toilet, cũng hỏi Thỏ: này bạn Thỏ bạn có khó chịu khi lông bạn dính tý phân không? Thỏ cũng bảo không sao, ... thế là Gấu với tay tóm lấy Thỏ và ung dung chùi đ.... he he !!!
PS: Cụ Vịt đọc xong quả "tiếu ngụ " (tiếu lâm-ngụ ngôn) này cười khùng khục và bảo Tim đưa lên muamay, đây là yêu cầu của cụ Vịt, chú ý có mấy hình minh họa không hiển thị tốt lắm nhờ cụ Vịt điều chỉnh giúp

Tuesday, November 16, 2010

Trả Lại Tiền

Cao Xuân Huy

từ tập truyện ngắn "Vài Mẩu Chuyện" do nhà Văn Học xuất bản, ấn bản đầu tiên, năm 2010
 
Cơn thèm đàn bà bắt gã đạp xe loanh quanh trong thành phố.
Đường Hồng Thập Tự lác đác chị em ta đứng thập thò dưới các gốc cây. "Xe qua lại nhiều quá, không được."
Gã đảo một vòng công viên trước cổng Dinh Độc Lập. Tối. Mỗi gốc cây đều thấp thoáng bóng người. Vài tay cũng đạp xe rảo rảo giống gã. "Được rồi."
Gã tấp vào một gốc cây.
Một ả ló ra kéo tay gã:
"Dzô sát trong đây."
"Nhiêu?"
"Hai chục."
"Không có đủ."
"Dzậy có nhiêu?"
"’Thổi’ không thì nhiêu?"
"Mười."
"Vẫn không đủ."
"Dzậy chớ muốn nhiêu?"
"Có năm thôi."
"Hổng được. Đụ má… Chưa mở hàng."
"Nguyên một ngày lương! Không được hả? Thì thôi."
Gã quay đi. Ả kéo lại.
"Thôi, có nhiêu lấy nhiêu!"
Gã đứng tựa lưng vào gốc cây. Tụt quần.
Ả ngồi xổm xuống. Làm việc.
. . .
Ánh đèn pin bất ngờ chiếu thẳng vào mặt gã đàn ông, kèm theo tiếng quát:
"Đứng yên!"
Gã mở choàng mắt, kéo vội quần lên.
Ả bật dậy, co chân định chạy.
Tiếng lên đạn lách cách. Tiếng quát của tên dân phòng:
"Đưa giấy tờ coi."
Gã lúng túng moi ra tờ giấy: "Ra Lệnh Tha" với tội danh: "Can tội sĩ quan ngụy".
Ánh đèn pin dừng lại trên những hàng chữ, ngập ngừng.
Tiếng gã phân bua:
"Tôi mới được thả. Lâu ngày… Thèm quá…"
Tên dân phòng nhỏ giọng:
"Anh tui cũng bị mấy năm như cha, mà đâu có tầm bậy tầm bạ như dzầy. Phải kiếm chỗ kín kín một chút chớ."
"Tôi cũng muốn vậy, nhưng tiền đâu mà mướn phòng."
"Nó lấy cha nhiêu?"
"Năm đồng."
"Năm đồng?" Tên dân phòng bật tiếng cười.
Quay sang phía ả đàn bà, hắn ra lệnh:
"Trả lại tiền cho người ta!"
Không hiểu, ả hỏi lại:
"Tiền? Trả lại…"
Hắn quát:
"Trả lại cho người ta. Rồi đi đi."
Ả ngập ngừng định lên tiếng, nhưng đành im lặng trả lại tiền.
Gã đàn ông lên xe, đạp đi. Đợi tên dân phòng đi khuất, hắn vòng lại, đến gần ả.
"Này, tôi trả lại năm đồng."
Ả quay lại. Cái nhìn đậu trên mặt gã vài giây, rồi nói:
"Thôi, giữ lấy xài đi."

Chờ tôi với…

Cao Xuân Huy
từ tập truyện ngắn Vài Mẩu Chuyện do nhà Văn Học xuất bản, ấn bản đầu tiên, năm 2010

    Tiếng rít của vỏ đạn hỏa châu phá tan cái im lặng của mặt trận. Mỗi lần có hỏa châu, vỏ đạn rơi thẳng xuống chỗ Toàn đang nằm, Toàn rúm người, thu nhỏ thân hình, sợ vỏ đạn rơi xuyên qua thân thể mình. Trời lạnh, mưa mỏng hạt, ánh trăng hạ tuần nhờ nhợ lẫn vào màu cát. Toàn căng mắt nhìn, không thấy gì. Màu vàng nhợt xóa mờ đường ranh giữa trời và đất. Ánh sáng hỏa châu nhập nhòe không làm rõ được đường nét vùng quan sát.
    Tựa lưng vào thành giao thông hào, Toàn hồi hộp đợi lệnh tấn công lần chót trước giờ ngưng bắn. Đã quá bốn giờ sáng, chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là đến giờ. Một cuộc ngưng bắn toàn diện, chính thức được hai bên thỏa thuận và quốc tế công nhận bằng hiệp định Paris, và đã được thông báo, phổ biến trong toàn quân. Tám giờ sáng, đúng tám giờ sáng ngày 28 tháng Giêng năm 1973, cuộc chiến kéo dài gần hai chục năm chấm dứt. Vĩnh viễn.
    Toàn chỉ huy một đơn vị tác chiến chuyên nghiệp, những người lính là những tay cảm tử, xem cái chết “nhẹ tựa hồng mao”, những cái lông hồng của Toàn đã rụng hơn ba phần. Đại đội Toàn tả tơi qua những đợt tấn công liên tục trong ngày. Mục tiêu, vị trí phòng thủ của một trung đoàn địch. Một chọi mười không chột thì cũng phải què, cánh quân bên kia thế nào không biết, cánh của Toàn từ điểm xuất phát gần hai trăm, sau hai mươi tiếng đồng hồ, còn hơn ba chục, đang nằm dọc theo giao thông hào vừa chiếm được, hồi hộp đợi lệnh tấn công đợt chót.
    Tuổi trên dưới hai mươi, những thằng em còn lại của mình phải sống. Chỉ còn vài tiếng đồng hồ thôi, Toàn, mày phải sống, mày phải là người chứng kiến giờ phút lịch sử này. Phải bám vào cái chuyển mình này của lịch sử. Bỗng dưng, Toàn đâm sợ chết.
*
    Máy truyền tin PRC-25 kêu “khè” một tiếng, Toàn chụp vội ống liên hợp:
    “520 – 05.”
    “05 – 520.”
    “Rồi. Hướng mười giờ.”
    “Nhận năm.”
    Cuộc tấn công chót bắt đầu.
    Toàn nhìn đồng hồ, mới sáu giờ sáng. Còn hai tiếng nữa.
*
    Đúng tám giờ. Trời sáng rõ. Tiếng súng vẫn còn nổ.
    Toàn bảo thằng máy:
    “Kháng, mày la lên là tới giờ ngưng bắn rồi.”
    Kháng nghiêng đầu, quay miệng chếch lên, la:
    “Tám giờ rồi. Tám giờ rồi nghe.”
    Toàn bật cười:
    “Tám giờ rồi thì sao?”
    Kháng cũng cười theo, lại chếch miệng lên, la tiếp:
    “Tám giờ rồi, tới giờ ngưng bắn rồi nghe.”
    Tiếng súng vẫn chưa ngưng.
    Những đồi cát hình cánh cung toàn là địch, thầy trò Toàn nằm lọt vào giữa, dưới thấp. Ước lượng theo tiếng súng, Toàn đoán ít nhất địch vẫn còn đông gấp chục lần mình. Lúc nãy, khi khởi sự cuộc tấn công lần chót, trời còn tối dễ nhập nhằng, nhưng bây giờ, trời sáng rõ. Thầy trò Toàn đang nằm chịu trận. Giờ ngưng bắn đã bắt đầu có hiệu lực, nhưng thực tế, đủ các loại đạn vẫn hướng về phía Toàn mà nổ.
    Tám giờ năm, tiếng súng vẫn chưa ngưng.
    Toàn lại nhắc Kháng:
    “Mày la nữa lên.”
    Kháng lại chếch miệng lên, la tiếp:
    “Tới giờ rồi, tới giờ ngưng bắn rồi nghe.”
    Chỉ có tiếng súng trả lời.
    Toàn bảo Kháng:
    “Mày giơ thử ngón tay lên coi tụi nó còn nhắm bắn mình không.”
    Kháng tròn mắt nhìn Toàn:
    “Bộ ông giỡn hả?”
    “Mày ngu thấy mẹ. Lỡ nó bắn cụt ngón tay, có phải là được giải ngũ không?”
    Kháng nhìn quanh, vớ được nhánh dương cong queo trong mức an toàn duy nhất, giơ lên khỏi đầu. Chưa đầy chớp mắt, nhánh dương bị bắn gẫy.
    Toàn gọi máy qua cánh quân bên phải:
    “05 – 520.”
    “520 – 05.”
    “Phía ông ngưng chưa?”
    “Chưa.”
    “Ông ‘thọc’ mạnh lên. Sườn tôi hở, lạnh thấy mẹ.”
    Tiếng súng rộ lên phía bên phải. Toàn và Kháng nhào lên chốt địch phía trước. Tâm, tên cao bồi của Toàn, chồm người tung quả lựu đạn. Lựu đạn vừa rời khỏi tay Tâm, Toàn nghe tiếng thét:
    “Chết tui.”
    Toàn quay lại nhìn, Tâm nằm ngửa bất động trên cát, máu trong bụng nhỉ ra.
    Cùng lúc, Toàn và Kháng tung lựu đạn vào trong hầm rồi vọt theo, làm chủ cái chốt. Toàn nhào ngược về đằng sau, nắm chân Tâm kéo thụt xuống sau mô cát.
    Tâm nhìn Toàn:
    “Đù má nó. Ngưng bắn rồi mà sao tui chết hả ông thầy? Ông rán sống nghe ông thầy!”
    Nói dứt câu, người Tâm giựt mạnh rồi mềm xuống.
    Toàn  vuốt mắt Tâm rồi nhào lên với Kháng:
    “La lên nữa đi!”
    Kháng:
    “Đù má, tới giờ ngưng bắn rồi nghe.”
    Tám giờ mười lăm, tiếng súng thưa dần.
    Tiếng súng thưa dần rồi im hẳn. Toàn nhìn đồng hồ, tám giờ hai mươi lăm.
    Cho chắc ăn không còn là mục tiêu, Toàn bảo Kháng:
    “Mày giơ ngón tay lần nữa coi.”
    Không tìm đâu ra nhánh dương nào khác, Kháng giơ ngón tay trỏ lên ngang mắt ngắm nghía, cười cười thủ thỉ: “Đụ má, đừng bỏ tao nghe mảy!”
    Toàn gắt:
“Đù má mày, giơ ngón tay lên.”
    Kháng rụt rè đưa ngón trỏ lên khỏi đầu, cao hơn mô cát một chút, rồi lại thụt xuống. Nhấp nhứ như vậy một lúc, Kháng để hẳn ngón tay cao hơn mô cát. Không thấy động tĩnh gì, Kháng nhích tay cao hơn, cao hơn tí nữa. Kháng giơ cả bàn tay, vẫn yên lặng. Toàn nhìn quanh kiểm soát đám đàn em. Tất cả đang nhìn Toàn chờ.
    Toàn đẩy đẩy cái mũ sắt của mình lên cao khỏi mô cát. Không có gì.
    Toàn ghếch đầu nhìn lên phía trước. Dãy đồi cát hình cánh cung trước mặt Toàn đầy người. Tất cả đều đứng dưới giao thông hào, chỉ lộ từ ngực trở lên.
    Toàn đứng hẳn dậy. Lính tráng chỉ đợi có thế, cũng đứng hẳn lên. Tháo dây đạn, bỏ súng, bỏ mũ sắt xuống.
    Binh nhất Phước đen, một tên cao bồi khác của Toàn, vụt băng mình lao về phía trước. Toàn hốt hoảng ra lệnh cho lính ứng chiến ngay lập tức, sợ có gì nguy hiểm cho Phước đen. Nhưng không, những người bộ đội phía bên kia nhào lên khỏi giao thông hào, ôm chầm lấy Phước đen. Phước đen móc trong túi ra gói thuốc mời, mời, mời hết người này đến người khác.
    Lính hai bên ùa lên phía trước, ôm nhau hò hét:
    “Hết đánh nhau rồi! Hết chiến tranh rồi!”
    Những bộ quân phục rằn ri miền Nam trộn lẫn những bộ quân phục cứt ngựa miền Bắc. Cố không khóc nhưng nước mắt Toàn cứ ứa ra, không kềm được. Nhưng việc gì phải kềm chứ! Toàn mặc cho nước mắt trào ra.
    Có tiếng nghẹn ngào bên cạnh:
    “Anh khóc đấy à?”
    Toàn quay qua, một người bộ đội nước mắt cũng đang nhòe nhoẹt. Chẳng nói chẳng rằng, cả hai ôm chầm lấy nhau…
    Toàn bảo lính buộc cờ vào những lùm dương thấp lè tè rải rác quanh chỗ vừa chiếm được. Bắc quân ở tại chỗ nên có sẵn cây, sẵn cột để cắm cờ.
    Có lá cờ buộc không kỹ rơi xuống cát, người bộ đội vỗ vỗ Toàn, chỉ:
    “Anh ơi, cờ của anh rơi kìa!”
*
    “Chào anh.”
    Toàn nhận ra người bộ đội lúc nãy:
    “Chào anh.”
    “Anh ăn cơm chưa?”
    “Sao anh lại hỏi ăn uống giờ này?”
    “Xin lỗi anh. Đó chỉ là câu chào quen miệng của chúng em.”
    “Vậy hả? Anh khỏe không?”
    “Anh nói giọng Bắc? Ngoài Bắc anh ở đâu?”
    “Tôi dân Hà Nội, vào Nam từ 54.”
    “Em cũng dân Hà Nội.”
    “Thế à? Vậy mình là đồng hương đấy nhỉ? Thế anh xa Hà Nội bao lâu rồi?”
    “Hơn bốn năm rồi anh ạ.”
    Toàn nhìn người bộ đội, cũng khoảng tuổi trên dưới hai mươi như lính của mình, nước da men mét tái có lẽ do sốt rét, nhưng mặt mũi sáng sủa. Trên mũ cối, những hàng chữ viết tên các địa danh như Cùa, Ba Lòng, Khe Sanh, Làng Vey, đường Chín… bên hông mũ gắn tấm ảnh bẩn, vàng ố vì thời gian, chụp bán thân một người đàn bà luống tuổi vấn tóc trần.
    Toàn chỉ tay lên những địa danh viết trên mũ sắt của mình:
    “Hóa ra mình là đồng hương, và cũng đã gặp nhau qua những chỗ này rồi đấy nhỉ!”
    “Em đi trận đã ba, bốn năm rồi, toàn quanh quẩn vùng này!”
    Thấy Toàn nhìn chăm chăm vào tấm ảnh, người bộ đội ngượng nghịu nói:
    “Ảnh mẹ em đấy! Em mang theo từ khi đi nghĩa vụ.”
    “Thế anh không có người yêu à?”
    “Có anh ạ, nhưng… cô ấy đang học đại học.”
    “Học đại học thì tại sao lại nhưng?”
    Người bộ đội ngập ngừng, nói qua chuyện khác:
    “Ở trong Nam, các anh muốn được học đại học phải có những điều kiện gì?”
    Toàn bỡ ngỡ với câu hỏi nhưng cũng trả lời:
    “Điều kiện ấy à? Một điều kiện duy nhất là phải học xong trung học, tức là phải có bằng tú tài, thế thôi. Mới mấy năm sau này, khi cuộc chiến khốc liệt, những người học đúng tuổi mới được học tiếp lên đại học, còn những người dù chỉ học trễ một năm, cũng phải đi lính đã.”
    “Ở ngoài em thì khác. Ở ngoài Bắc thì ‘học tài thi… lý lịch’, vào đại học không theo sức học hay tuổi tác.”
    “Lý lịch phải tốt anh mới được đi bộ đội chứ?”
    Người bộ đội cười nhẹ:
    “Anh chẳng hiểu gì cả. Ở ngoài em, lý lịch tốt thì học đại học. Ông nội em bị đấu tố trong kỳ ‘cải cách ruộng đất’, mẹ thuộc gia đình tư sản ở Hà Nội, thì em phải đi B thôi.”
    “Sao gia đình anh không di cư vào Nam năm 54?”
    “À, gia đình em là gia đình liệt sĩ, bố em chết trận thời kháng chiến chống Pháp, lúc đang làm đại đoàn phó. Mẹ em nghĩ gia đình có công với cách mạng nên không đi. Hơn nữa, mẹ em muốn đợi hòa bình lập lại để đi tìm xác bố em. Chỉ có người anh ruột của em theo ông chú vào Nam thôi.”
    “Thế anh của anh làm gì ở trong Nam?”
    “Có lẽ anh của em cũng đi lính. Trước khi đi B, mẹ em dặn là nếu ra trận cố tránh đừng bắn vào anh mình.”
    “Làm sao mà tránh!”
    “Thì thế…”
    Người bộ đội thở dài, đổi chuyện:
    “Lúc này sắp Tết rồi và máy bay Mỹ đã hết đánh phá, chắc Hà Nội đang trưng bán đầy hoa Tết.”
    “Ở ngoài Bắc… Hà Nội… Thế Hồ Gươm bây giờ ra sao?”
    “Ra sao là gì, anh?”
    “Có tu bổ, có chỉnh trang gì không? Có còn đẹp không?”
    “Không đâu anh ơi. Trên bờ thì bẩn và dưới hồ thì đầy rác.”
    “Có một buổi tối ngày lễ, tôi ngồi trên vai mẹ xem bắn pháo bông ở Hồ Gươm. Đêm ấy người đâu ra mà đông đến thế.”
    “Em thường lang thang nghịch ngợm ở Hồ Gươm.”
    “Nhà tôi ở ngõ Lê Đại Hành, gần Chợ Đuổi, đằng sau Nhà Diêm.”
    “Em ở phố Duy Tân.”
    “Có một lần tôi suýt chết đuối vì không biết bơi mà dám nhảy xuống hồ, cho chuồn chuồn cắn rốn rồi, tưởng là đã biết bơi.”
    “Em cũng có xuống chơi dưới Chợ Đuổi.”
    “Tôi bị xe đạp đâm vì thích nhắm mắt đi qua đường.”
    “Em thích nhảy tàu điện.”
    “Tôi đi theo mấy anh lớn nhặt quả sấu, quả cơm nguội. Cây cơm nguội sao mà to và cao thế.”
    Cả hai đang hào hứng thao thao nói chuyện không đầu không đuôi, chẳng ngô chẳng khoai gì hết về Hà Nội. Bất chợt, người bộ đội không nhìn thẳng vào mặt Toàn nữa, mà nhìn lệch sang một bên, rồi thì thào thật nhanh:
    “Mình ăn cây nào thì rào cây nấy anh ạ. Anh đừng nghe tuyên truyền.” Rồi đổi giọng đanh thép, chậm và rõ từng tiếng: “Bây giờ anh đã thấy được là chính nghĩa thuộc về chúng tôi chưa?”
    Toàn ngơ ngác và chợt hiểu. Một người bộ đội nữa đang đi đến từ phía sau lưng.
*
    Không phải là hưu chiến, mà là ngưng bắn, là hết bắn giết nhau, là chấm dứt chiến tranh. Chấm dứt chiến tranh. Toàn say sưa hít thở không khí một đêm yên tĩnh của ngày hòa bình đầu tiên. Tưởng tượng sẽ đi theo chàng bộ đội về Hà Nội thăm những cây cơm nguội, những hàng sấu, ngắm nhìn hồ Hoàn Kiếm… Nằm dài trên cát, gác chân lên mũ sắt, Toàn châm điếu thuốc mơ màng, mặc cho ý tưởng lang thang những nơi Toàn đã sống trong thời thơ ấu…
    “Uỳnh…”
    Nhanh như chớp, Toàn chụp khẩu súng, nhào xuống giao thông hào.
    Một quả đạn đại bác không giật bắn vào ngay giữa vị trí phòng thủ. May không ai bị thương.
Sáng hôm sau, cảnh mũ sắt, mũ cối quấn quýt nhau chỉ còn là giấc mơ cũ.
    Không khí căng thẳng.
    Địch tăng cường một đơn vị lớn từ phía Bắc xuống. Toàn báo cáo về bộ chỉ huy tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh nằm tại chỗ và tuyệt đối không nổ súng vì bất cứ lý do gì. Lệnh nhấn mạnh: “Hiệp định ngưng bắn đã hiệu lực. Ai nổ súng sẽ ra tòa án quân sự mặt trận”. Thế hóa ra chỉ có một bên ngưng bắn thôi à. Nó quất cho vỡ mặt cũng phải nhịn à. Quân tử Tàu thì chỉ có mà chết. Mẹ kiếp.
Trời chập choạng tối. Đột nhiên, đèn pha chiếu sáng rực sang phía đơn vị Toàn. Hai chiếc T-54 xuất hiện. Tiếng xích sắt ken két nghiến vào nhau dữ dội. Toàn lạnh người, sởn gai ốc. Toàn giương khẩu súng chống chiến xa M-72, kê lên ba lô, nhắm vào một chiếc T-54, miệng lẩm bẩm: “Mẹ, còn mỗi một khẩu, không đủ gãi ghẻ bố mày cũng chơi. Có chết bố mày cũng phải ‘ôm’ theo dăm đứa chúng mày, các con ạ”.
    Đêm thứ hai của ngày hòa bình, đơn vị Toàn bị tấn công.
Những đợt tấn công đầu bằng đặc công của địch, đơn vị Toàn đẩy lui dễ dàng bằng lựu đạn. Toàn đã sẵn sàng chờ T-54 lâm trận, nhưng không, sau vài đợt tấn công dọ dẫm, địch dùng bộ binh đánh biển người, ồ ạt xung phong vào vị trí của Toàn. Thì ra mấy chiếc T-54 chỉ để…"nhát ma."
    Khi địch tràn ngập, lưỡi lê và lựu đạn thay cho súng.
    Sau một lúc quần thảo bằng lưỡi lê, Toàn gập người, ngã chúi xuống phía trước, mắt hoa đi, mũ sắt văng ra. Mất mũ là mất mạng. Phản xạ tự nhiên của bản năng sinh tồn bật dậy, Toàn nhoài người, vói tay về phía cái mũ. Cả thân thể lẫn cánh tay như không còn theo lệnh Toàn, chỉ nhích từng chút từng chút. Toàn cố nhoài người lên, vói tay. Cuối cùng, tay Toàn cũng chạm được vào cái mũ. Dùng hết sức bình sinh, Toàn kéo cái mũ nặng nghìn cân về phía mình. Cái mũ nhích tới. Nhích tới gần. Cái mũ tới sát mặt Toàn.
    Mắt Toàn dại đi, cái mũ trong tay không phải là mũ sắt, mà là mũ cối. Trên cái mũ cối mà Toàn đã một lần nhìn thấy, những hàng chữ viết tên các địa danh và ảnh người đàn bà vấn tóc trần Hà Nội rõ lên rồi nhòa dần, nhòa dần. Tiếng gào thét giết chóc vẫn vẳng vào tai cùng lúc loáng thoáng hình ảnh Toàn sánh vai người bộ đội đồng hương lang thang bên hồ Hoàn Kiếm… Đột nhiên, một tiếng gọi bật ra trong đầu Toàn “Anh bộ đội ơi, chờ tôi với…”.

Monday, November 15, 2010

copy from muamay blog

Nhà sử học - đó là nhà tiên tri đoán trước
được quá khứ


Lời nói đầu.  “Tôi sợ không phải cái chết, mà là sự bất tử”. Nghịch lý sâu sắc đó thuộc về đại văn hào người ArgentinaJorge Luis Borges1) (1899 – 1986). Ông đã yên nghỉ ngàn thu tại Thụy Sỹ.
          Văn phong của Jorge Luis Borges có nhiều ảnh hưởng đến cái gọi là “Chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo” với những đại diện Mỹ La-tinh tiêu biểu: Alejo Carpentier, Garcia Marquez,… Ông được xếp ngang cùng với Henrik Ibsen, Émil Zola, André Malraux, Marcel Proust, James Joyce, Vladimir Nabokov,… trong ‘danh sách’ các nhà văn kiệt xuất ‘không được giải Nobel văn chương’.
          Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc trích đoạn bài phỏng vấn của nhà làm phim tài liệu người Pháp - André Camp với nhà văn vào năm 1969 tại Buenos Aires. H. V. dịch từ báo Văn học (Nga) số 2/1989. Những chú thích là của Ban biên tập Tòa soạn.
*
- Thưa Jorge Luis Borges, ngài là người lạc quan?  
          - Ở tuổi tôi, hạnh phúc riêng hầu như vô nghĩa. Có lẽ nó ít ý nghĩa hơn nhiều so với sự bất hạnh. Nếu nói về loài người, thì tôi đã quá cổ, cho nên tôi tin vào sự tiến bộ. Còn một khi nói đến lạc quan và bi quan, có lẽ cũng không vô ích khi nhắc lại rằng, từ thuở ban đầu trong các từ đó đã ẩn một ý nghĩa mỉa mai. Leibniz2) cho rằng chúng ta sống trong thế giới tốt đẹp nhất của các thế giới, còn Voltaire trong Candide3) đã cười nhạo nhà triết học người Đức qua hình tượng nhân vật Pangloss và nghĩ ra từ “người lạc quan”. Mà bởi đã có từ “lạc quan”, thì nhất định phải có từ “bi quan”.
          Tôi nhớ lại lời của Nora – em gái tôi, trong một lần đàm luận với cô về những người lạ từ hành tinh khác và khả năng họ đột nhập lên Trái đất - “Dễ chịu biết bao – cô ta nói – khi nghĩ rằng có những người quan tâm đến chúng ta, và có thể, họ yêu mến chúng ta, mặc dù chúng ta chẳng biết một chút nào về điều đó!”. Những lời này là cái nhìn của hy vọng, chứ  hoàn toàn không phải nỗi lo.
          - Tuy nhiên, ngài tin vào sự tiến bộ?
          - Theo nghĩa rộng – tôi tin, mặc dù tôi nghĩ nhiều hơn đến đường xoáy ốc của Goethe4) trong sự phát triển. Tôi không cho rằng, ngày thứ ba nhất định phải cao hơn, “phát triển” hơn ngày thứ hai, và ngày thứ tư – cao hơn ngày thứ ba. Tôi chỉ nghĩ rằng: sau vài trăm, vài nghìn ngày thứ hai và ngày thứ tư, thì mọi việc cần phải tiến triển tốt hơn một chút.
          Đúng hơn, tin vào sự tiến bộ tức là nói ra không phải sự vững tin lô-gic nào đó, mà chỉ một niềm hy vọng. Nếu xem xét lịch sử thế giới, theo quan điểm của tôi, trong nó có một sự tiến bộ - sự tiến bộ tất yếu về tinh thần. Nói về quá khứ và hiện tại có nghĩa là nói chuyện hơi trừu tượng. Tuy nhiên, tôi thấy hiện nay, con người – dù hung bạo hay thậm chí nhẫn tâm – đã hướng tới biện minh cho sự hung bạo của mình. Thế nhưng đã từng có những thời, khi mà vua chẳng hạn, có quyền biểu thị sự tàn bạo vô tâm, mà không cảm thấy một chút cần thiết biện minh nào. Có thể, bây giờ con người ta hành động xấu, nhưng khi đó ít ra họ cũng thấy nhu cầu thuyết phục những người khác – và chủ yếu là thuyết phục chính bản thân họ - rằng họ hành động đúng. Chúng ta bước vào thời kỳ phát triển tốt đẹp nhất – thời kỳ dối trá và đạo đức giả. Nhưng như thế cũng đã nhiều. Bởi chúng ta sống trong thời gian, trong sự liên tục không đảo ngược được của nó.
          Thời gian là ảo ảnh - ảo ảnh không tránh khỏi. Nói như vậy, tôi lại nhớ đến những lời của Oscar Wilde5) đã nói (chẳng bao giờ biết được, ông ta nói điều ông ta nghĩ, hoặc giả chỉ muốn làm chúng ta kinh ngạc): mỗi khoảnh khắc trong cuộc đời mỗi người – đó là tất cả quá khứ, tất cả hiện tại và tất cả tương lai của anh ta. Còn Hê-rac-litÊ-phe-zơ6) khẳng định cũng vậy rằng, số phận con người nằm ở tính cách con người.
          Quan niệm của tôi về tính liên tục của thời gian giống như quan niệm về bất hạnh và hạnh phúc. Tôi không biết, có tồn tại hay không sự vĩnh cửu, hoặc nó được tưởng tượng ra bởi các nhà thần bí, các nhà siêu hình và các nhà triết học, nhưng tôi tin rằng, tất cả chúng ta đang tiến tới sự vĩnh cửu. Và trong khi tiến tới sự vĩnh cửu, rất có thể, chúng ta sẽ sáng tạo ra nó.
          Không phải tôi có ý nghĩ rằng, mặc dù Chúa Trời có lẽ không tồn tại, nhưng tất cả chúng ta, cách này hay cách khác, đều tham gia sang tạo ra Chúa. Có thể, Chúa sẽ tồn tại chỉ nhờ những nỗ lực và đau khổ của chúng ta. Cũng như Jules Renard7), tôi sẽ nói, bởi hạnh phúc chỉ là trạng thái thoáng qua, chẳng báo trước được điều gì tốt lành, cho nên cần hướng tới nó ít hơn là hướng tới sự bình yên. Đúng hơn, tôi tự hướng tới sự yên lòng, tôi cố gắng tìm thấy hạnh phúc trong việc đọc sách và tư duy, hơn là trong một việc gì khác.
          Tôi luôn cảm thấy tôi không có ích lắm. Tôi rất lười biếng. Tôi cố gắng làm việc khi đây, khi đó. Tôi thực hiện điều này chưa phải là tốt lắm, dù sao theo tôi, tôi đã thấy được sứ mệnh của mình trong lao động văn học. Nếu như tôi không viết, không tư duy văn học, thì tôi quả là người vô cùng bất hạnh. Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là văn của tôi hay – chính tôi lại ưa thích những nhà văn khác – nhưng tôi cho rằng ở Argentina khó mà tập hợp được một tá các nhà văn làm công việc của mình tốt hơn tôi. Văn học – đó là tiền định duy nhất của tôi, và tôi cố gắng thực hiện tiền định này, chừng nào điều đó còn ở sức tôi. Văn học đối với tôi là chân thực nhất trên thế giới, thậm chí chân thực hơn nhiều chính cuộc sống của tôi.
          - Liệu có thể thực hiện được tất cả những gì mà chúng ta tin không?
          - Có, tôi hy vọng, bởi nếu chúng ta có thể hình dung được một cái gì đó, thì có nghĩa chúng ta có khả năng thực hiện điều này. Trí tưởng tượng có sức tiên đoán: đầu tiên con người tưởng tượng một điều gì đấy, và sau đó điều này diễn ra trong cuộc sống. Thật ra, sẽ tốt hơn cho các nhà văn, nếu điều đó không xảy ra. Một trong những nguyên nhân làm cho ngày nay người ta hầu như không đọc Jules Verne8), là mọi điều ông nghĩ ra đã thành hiện thực và chẳng còn hứng thú nào cho chúng ta. Nhưng Herbert Wells9) chúng ta vẫn tiếp tục đọc, chỉ vì chưa ai chế ra được cỗ máy thời gian. Đối với Wells tốt hơn hết là những ý tưởng của ông không bao giờ thực hiện được. Tuy rằng tôi suy xét mọi điều này trên quan điểm văn học…
          - Ngài có cảm tưởng là chúng ta đang phải trải qua thời kỳ khủng hoảng và chấn động không?
          - Thế giới ngày nay như tôi hình dung, rất đáng lo ngại, và theo một nghĩa nào đó, cảm tưởng này là hoàn toàn tự nhiên, bởi chúng ta sống trong thế giới đó. Đồng thời, chúng ta cảm nhận lịch sử một cách khác, lịch sử đối với chúng ta – là bức tranh, là điển hình.
          Dĩ nhiên, tất cả chúng ta đang sống trong thời kỳ quá độ. Nếu như tôi nói về thời tốt đẹp xa xưa, về belle époque10), thì tôi chỉ là người đa cảm. Một linh mục Pháp có nói: ai không sống trong “chế độ cũ11), thì chưa thể biết tuyệt mỹ của cuộc sống. Nhưng những ai đã sống thời đó, lại không cảm thấy tuyệt mỹ này. Tất cả các thời kỳ đều là quá độ. Về tương lai, hay về những thời đại tương lai, chúng ta chỉ biết một điều là chúng sẽ không giống như hiện nay. Tôi tin vào sự đến gần của những biến chuyển sâu sắc. Có thể, chúng đã đang diễn ra? Nhưng những biến đổi này còn xa cái gọi là phản động hay cách mạng. Tôi tin vào những biến đổi sâu sắc hơn.
          - Ngài có nghĩ rằng các tôn giáo sẽ sống qua được tất cả những chấn động này?
          - Các tôn giáo đang thay đổi, chúng trải qua quá trình tiến hóa, như vậy đã bao đời nay. Giáo hội đã cần phải minh bạch, nhưng tôi không nghĩ rằng sự minh bạch này từ thuở ban đầu đã có ở giáo hội. Tôi tin chắc rằng Jesus chưa bao giờ có ý nghĩ sang lập ra tôn giáo, và có lẽ, ông ta sẽ rất ngạc nhiên, nếu người ta nói với ông về đạo Cơ-đốc. Ông ta là một người Do-thái như mọi người Do-thái.
          Tôi không biết các tôn giáo sẽ trở thành cái gì, nhưng tôi cho rằng chúng sẽ cứu vớt được điều chính yếu nhất – tư tưởng thiện và ác. Đây chính là ý nghĩa luân lý của tôn giáo đối với tôi.
          Tôi không tin tưởng rằng, tôi có phải tín đồ Cơ-đốc giáo hay không. Có lẽ, mẹ tôi sẽ hơi buồn khi nghe thấy điều này. Dẫu sao, tôi cho là, trở thành tín đồ đạo Tin-lành thì tốt hơn là tín đồ Thiên-chúa giáo12). Cha tôi là người vô thần. Mẹ tôi là người theo đạo Thiên chúa mang dáng vẻ dịu hiền Argentina. Cô em tôi – người vô cùng ngoan đạo. Bà tôi là tín đồ Nhà thờ Anh, còn các cụ tổ của bà là tín đồ của Quây-cơ giáo13). Tôi được giáo dục trong bất đồng tôn giáo ấy, nhưng đó không là bi kịch cho tôi. Ngược lại, tôi thấy được chủ nghĩa vô thần của cha và tiếp nhận mọi thứ, chẳng hạn các khả năng tri thức khác nhau, mà mỗi thứ có vẻ hay riêng.
          Miguel de Unamuno14) cho rằng, Chúa Trời đối với ông ta là người sáng tạo ra sự bất tử. Tôi có thể công nhận khả năng đó, nếu như tôi tin chắc rằng, tôi có thể quên đi cuộc sống hiện tại của mình…
          - Theo ngài, điều gì đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lịch sử nhân loại?
          - Chúng ta không được quên hai quốc gia, hai dân tộc: Hy-lạp (La-mã – là một dạng kế tiếp Hy-lạp) và Israel. Không thể hình dung được lịch sử Phương Tây thiếu SocratesJesus. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa cần phải quên đi sự tiến hóa và phong phú lên, mà chúng ta có được nhờ dòng chảy thời gian và những con người của mọi dân tộc.
          Tuy nhiên, dấu ấn sâu đậm nhất trong sự phát triển của loài người, đã được để lại – cho phép tôi dung một từ hoàn toàn cổ - bởi nền dân chủ. Tôi biết ơn những người đã làm nên Cách mạng Pháp, những người đã chiến đấu cho nền độc lập nước Mỹ; những người đã đấu tranh vì độc lập cho Argentina, sau khi đã làm nên cuộc cách mạng của chúng tôi. Và tiếp nữa: tại sao không kể tên hai cuộc thế chiến? Theo tôi, chúng ta chịu ơn nhiều cả bạo lực. Những người theo chủ nghĩa hòa bình – pacifism (x. chú thích 13.) thực không lô-gic lắm, trong khi lập luận về bạo lực, họ chỉ ngụ ý bạo lực tương lai. Tôi muốn hỏi họ: “Lẽ nào các người quả thật hổ thẹn vì các cuộc cách mạng dân chủ? Hổ thẹn vì các nước đồng minh liên kết với nhau chống lại nước Đức quốc xã? Nếu các người là những người cộng sản, thì lẽ nào các người lại hổ thẹn vì Cách mạng Nga?” Ví như tôi, tôi không hổ thẹn vì chiến tranh. Có thể là do tôi xuất thân từ một gia đình quân nhân và đã từng muốn trở thành một người lính.
          - Ngài nghĩ rằng khoa học có thể thúc đẩy tiến trình lịch sử?
          - Tôi xa khoa học, nên khó có thể cho câu trả lời giản đơn. Tôi có hơi quan tâm đến Đại số, đã đọc sách của HiltonUspensky về độ đo thứ tư, nhưng khó mà thành đạt trong môn này. Tôi sử dụng kiến thức của mình vào các mục đích thẩm mỹ, nhưng trong khoa học tôi chẳng có một chút uy tín nào.
          Tôi tin chắc rằng không bao giờ tôi hiểu được cấu tạo của telephone và phong vũ biểu, hoặc bằng cách nào mà các bức điện được truyền đi. Mọi thứ đó trên tầm hiểu biết của tôi. Dù vậy, tôi cảm nhận trong tôi một khả năng kỳ lạ để hiểu thế giới, thời gian, không gian và Chúa Trời… Song “những môn này” hiển nhiên là đơn giản hơn!
          Tôi tuyệt đối không tin vào lịch sử như một khoa học. Cũng như Schopenhauer15), tôi cho rằng tiếp cận lịch sử bằng khoa học sẽ ngang bằng như việc phân biệt hình dáng sư tử, hoặc dãy núi giữa làn mây. Theo tôi, Heine có nói: “Nhà sử học - đó là nhà tiên tri đoán trước được quá khứ16).
          Thật đáng tiếc, ngày nay có xu hướng sống “một cách lịch sử”. Con người, dĩ nhiên luôn được lôi cuốn vào lịch sử, nhưng điều này diễn ra một cách vô tình, trong khi đó, ngày nay mỗi người đều biết mình là một nhân vật lịch sử, biết mọi người đang chờ đợi ở mình điều gì. Nếu hơi cường điệu (chúng ta được phép cường điệu, bởi những người đọc chúng ta, sẽ chịu khó chỉnh sửa và lược giản chúng ta), tôi sẽ nói rằng phần lớn văn học hiện thời không được hay như có thể có, là bởi các nhà văn thiếu chính sự vô tình đó.
          Có không ít các tác giả trẻ - trước kia tôi cũng đã như họ - khi viết, nghĩ về văn học ít hơn nghĩ về lịch sử văn học và chỗ đứng của mình trong đó. Họ lập luận: “Tôi, người Argentina, viết vào năm 1969, sau hai cuộc thế chiến, sau sự sụp đổ của nền độc tài, tôi cần phải viết những trường ca gì, ai sẽ được chọn làm nhân vật trừu tượng mà tôi dựng lên?”
          - Tôi muốn được đề cập đôi chút về sáng tác của ngài.
          - Có những người, đặc biệt là ở Mỹ, biết về sáng tác của tôi, rõ hơn tôi. Tôi viết truyện ngắn, thơ – và tất cả đấy, còn họ đọc, đọc đi đọc lại: một sự gần gũi nào đó, mà tôi khó hiểu nổi, đã nảy sinh giữa họ và các tác phẩm của tôi. Họ đọc ý giữa dòng và tìm thấy ở đó nghĩa – không nhất thiết là sai – mà tôi không cảm nhận được. Khi viết xong điều gì đó, tôi cố quên nó đi và chuyển sang công việc mới.
          - Vì sao ngài thích viết cô đọng ở dạng các truyện ngắn và trần thuật ngắn?
          - Có hai lời giải thích cho điều này. Thứ nhất, và có thể, chính yếu – đó là sự lười biếng của tôi. Điều nữa là ở chỗ tôi rất thích truyện ngắn và không mấy tin tưởng vào các tiểu thuyết của mình. Nhưng nếu phải lập danh sách các tác phẩm vĩ đại nhất, thì trong đó sẽ có “Bouvard et Pécuchet” của Flaubert17), “Erewhon” của Butler18), “Đôn-ki-hô-tê” (Don Quijote) và nhiều tác phẩm khác. Mặc dù, tôi e rằng tiểu thuyết – đó chỉ là bề ngoài. Tác giả nghĩ ra câu chuyện phải kéo dài ba trăm hoặc bốn trăm trang giấy, nghĩ ra cuốn sách tương tự như “Những người thiện chí” của Jules Romain19), hoặc thậm chí giống như bột thiên tuế, sau đó là viết chúng. Nhưng chúng ta chẳng biết, những cuốn sách này đối với tác giả, có “tồn tại” hay không, như có thể tồn tại bài thơ, hoặc bài Sonnet, hay bất cứ vở kịch ngắn nào có sự hoàn thiện, ở đó tất cả đều hiện diện. Tất nhiên, tiểu thuyết cũng để lại trong ký ức một hình tượng nào đó, nhưng tôi cảm tưởng không “thực” như truyện ngắn. Edgar Poe có nói “chẳng có câu thơ dài”. Cũng thế, có thể nói về tiểu thuyết. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần “Tội ác và trừng phạt”, nhưng trong ký ức còn đọng lại chỉ ba hay bốn cảnh, trong khi đó biết bao bài thơ viết bằng nhiều thứ tiếng đã cùng tôi trong ý nghĩ trên đường phố, trong các hành lang thư viện, và cả ở nhà.
          - Đối với ngài, ở đâu kết thúc huyền ảo và hiện thực bắt đầu?
          - Tôi sẽ nói rằng hiện thực đó là cái diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, tức là sự việc. Huyền ảo – đó là cái kéo dài mãi mãi. Nếu chúng ta nhìn vào sự vật qua lăng kính thời gian, thì hư ảo, huyền ảo sẽ trở nên dễ cảm nhận hơn. Miguel de Unamuno có nói Đôn-ki-hô-tê  thực hơn nhiều ngay cả Cervantes. Chúng ta cảm nhận Cervantes chỉ như tác giả “Đôn-ki-hô-tê”, còn Đôn-ki-hô-tê bao giờ cũng là nhân vật sống đối với chúng ta.
          - Ngài viết về thời gian và tro bụi, mà tro bụi – đó là cái chết?
          - Chúng ta được thuyết phục bởi một điều gần như chắc chắn là chúng ta sẽ chết. Giả định đó thật vô định, cũng như mặt trời lặn chiều hôm nay, rồi lại mọc vào sáng mai. Cuộc sống của chúng ta – chỉ là hàng triệu triệu những trường hợp riêng xảy ra trước đó. Nhưng rất có thể (thử nhớ lại Bernard Shaw và vở kịch năm phần của ông “Trở về với Methuselah20)), trong thời đại chúng ta đã bắt đầu xuất hiện một thế hệ bất tử và chúng ta có thể trở thành, tôi không biết diễn đạt thế nào nổi điều này, được lựa chọn hoặc không tránh khỏi diệt vong.
          Nhưng tôi tiếp nhận cái chết, cái chết của riêng tôi, không như một cái gì đó bi thảm, mà đúng hơn, như một niềm hy vọng. Tôi đã viết xong bài Sonnet21) về điều này.
          Tôi nhớ lại một nhân vật của Stevenson22). Ông già nghèo khổ, bị tất cả mọi người coi khinh, cười nhạo, nhưng biết rằng ở đâu đó ẩn một kho báu. Trong tôi cũng ẩn một kho báu như thế (hay đúng hơn, kho báu chung cho mọi người) – đó là Cái chết.
          Sau khi chết tôi sẽ buồn, khi nghĩ rằng trên trái đất mọi người đã gọi tôi là Borges, rằng tôi đã in vài quyển sách, rằng tôi xuất thân từ một gia đình quân nhân… Tôi muốn quên đi tất cả mọi điều này, cũng như muốn quên đi quãng thời gian nằm trong bụng mẹ. Tôi đã hơi mỏi mệt làm Borges, và có thể sau khi chết đi, tôi sẽ trở thành ai đó khác, nhưng mong rằng không phải là Borges
______________________
1) Hor-hê Lu-is Bor-khes (phiên âm theo tiếng Tây-ban-nha)
2) Leibniz Gottfried Wilhelm (1646 - 1716): nhà triết học và toán học người Đức, người đưa ra thuyết “Hài hòa tiền định” (Chủ nghĩa lạc quan thô sơ).
3) Voltaire, tên thật là François-Marie Arouet (1694 - 1759): nhà văn và nhà triết học người Pháp. Tác phẩm “Candide, hay Chủ nghĩa lạc quan” (“Candide, ou l'Optimisme” - 1759) chống lại chủ thuyết nói trên của Leibniz.
4) Johann Wolfgang von Goethe (1749  –1832): nhà văn và nhà triết học người Đức. Khi giải thích quan điểm duy vật này, Goethe đã thừa nhận sự tồn tại của sức sống vĩnh viễn.
5) Oscar Wilde (1854 – 1900): nhà văn, nhà thơ và nhà viết kịch người Anh, gốc Ireland.
6) Héraclite d'Éphèse (535 – 475 tr. CN): nhà triết học người Hy-lạp.
7) Jules Renard (1864 – 1910): nhà văn, nhà viết kịch người Pháp.
8) Jules Verne (1828 – 1905): nhà văn Pháp, tác giả những truyện khoa học viễn tưởng nổi tiếng, như “Hai vạn dặm dưới biển”, “80 ngày vòng quanh thế giới”,…
9) Herbert George Wells (1866 -1946): nhà văn Anh, tác giả truyện khoa học viễn tưởng “Cỗ máy thời gian” (“The Time Machine” -1895).
10) Thời đại tuyệt vời (tiếng Pháp).
11) Chế độ quân chủ Pháp trước Cách mạng 1789.
12) Đạo Cơ-đốc gồm 3 nhánh: Thiên-chúa, Chính-thốngTin-lành. Điểm chủ yếu khác biệt đạo Tin-lành với hai đạo trên là thuyết về mối lien hệ trực tiếp của Chúa Trời với con người, mà không phải thông qua giáo hội.
13) Một tôn giáo được hình thành ở Anh vào giữa thế kỷ 17 (quaker trong tiếng Anh có nghĩa là run rẩy), bỏ hết mọi nghi lễ giáo hội, tuyên truyền chủ nghĩa hòa bình (pacifism), chủ trương chống mọi chiến tranh, kể cả chiến tranh chính nghĩa.
14) Miguel de Unamuno y Jugo (1864 – 1936): nhà triết học, nhà văn và nhà thơ Tây-ban-nha.
15) Arthur Schopenhauer (1788 – 1860): nhà triết học người Đức với chủ nghĩa bi quan, pha trộn màu sắc siêu hình Phương Đông. Ông có ảnh hưởng sâu rộng đến các nhà tư tưởng sau này, như F. Nietzsche, R. Wagner, L. Wittgenstein, E. Schrödinger, A. Einstein, S. Freud, , C. G. Jung, L. Tolstoy, J. L. Borges.
16) Ở đây có một số nguồn trích dẫn khác nhau, ngay như B. Pasternak trong một số vần thơ của mình đã gắn câu này với G. W. F. Hegel. Thực ra, nguyên văn “Der Historiker ist ein rückwärtsgekehrter Prophet” là của Friedrich von Schlegel (1772-1829), - “Nhà sử học là  nhà tiên tri ngược về quá khứ”.
H. Heine (1797 - 1856) trong “Gedanken und Einfälle, III: Kunst und Literatur có viết: “Der Historiker ist immer ein Merlin, er ist die Stimme einer begrabenen Zeit, man befragt ihn, und er gibt Antwort, der rückwärtsschauende Prophet”, - “Nhà sử học là chim ưng của thời gian đã bị thiêu rụi, mỗi khi chúng ta hỏi, nó cho câu trả lời, -  nhà tiên tri nhìn về quá khứ”.
17) Gustave Flaubert (1821 – 1880): nhà văn Pháp có ảnh hưởng nhiều tới trường phái hiện thực lãng mạn.
18) Erewhon” – phép đảo chữ trong từ “Nowhere” – là tác phẩm của nhà văn người Anh Samuel Butler (1835 – 1902), viết năm 1872, châm biếm xã hội dưới thời nữ hoàng Victoria.
19) Les Hommes de bonne volonté” của nhà văn Pháp Jules Romains (1885 - 1972).
20) Bernard Shaw (1856 – 1950): nhà văn người Anh, gốc Ireland. Back to Methuselah” (“A Metabiological Pentateuch”) là vở kịch năm phần kể về một thế giới không tưởng những người trường thọ. Methuselah  là nhân vật truyền thuyết trong Kinh-Thánh, sống lâu 969 năm.
21) Đó là bài SonnetCosmogonía”’ - “Sáng-thế-luận”, hay “Vũ-trụ khai-tịch-luận”.
22) Robert Louis Balfour Stevenson (1850 – 1894): nhà văn người Scotland, tác giả “Đảo giấu vàng

Blog Dam Than Son: Quiz about Humming Bird

Câu đố: con chim ruồi


Con chim ruồi nhỏ nhất có khối lượng khoảng 2 g.
Câu đố: đánh giá tần số đập cánh của con chim ruồi nhỏ nhất lúc bay đứng một chỗ.

Đáp án của GS Đàm Thanh Sơn:
OK, đây là đáp án. Rất tiếc tôi chưa có thời gian xem kỹ lời giải của các bạn, nhưng có vẻ là phần lớn các bạn đều đi đúng hướng.
Tôi dùng phương pháp thứ nguyên để đánh giá. Gọi kích thước của con chim là l. Trong phép gần đúng này ta không quan tâm đến hình dạng của con chim, coi như nó là một cục các chiều đại khái như nhau (ví dụ, coi con chim là hình lập phương). Nếu giả sử mật độ của con chim là \rho, khối lượng của chim là m, thì l =(m/\rho)^{1/3}. Trong phép gần đúng này, l cũng là kích thước của cánh con chim.
Lực đẩy trung bình F do con chim vẫy cánh phụ thuộc vào khối lượng riêng của không khí \rho_{\rm air}, kích thước cánh l, và tần số cánh vẫy \omega. \rho_{\rm air} đo bằng g cm-3, l đo bằng cm, còn \omega đo bằng s-1. Lực F thì đo bằng g cm s-2 (lực = khối lượng × gia tốc). Chỉ có một cách lập ra một biểu thức có thứ nguyên của lực từ \rho_{\rm air}, l\omega, đó là
F \sim \rho_{\rm air} l^4 \omega^2.
Cân bằng lực này với trọng lực gm = g\rho l^3, ta tìm được
\omega = C \sqrt{\displaystyle{\frac g l}} \sqrt{\displaystyle{\frac\rho{\rho_{\rm air}}}}
trong đó C là một hằng số, cỡ bằng 1, mà ta không thể tìm được bằng phương pháp thứ nguyên. Chú ý rằng \sqrt{g/l} là tần số dao động của một con lắc có độ dài bằng l. Như vậy tần số vỗ cánh của con chim khoảng bằng \sqrt{\rho/\rho_{\rm air}} lần tần số dao động của con lắc.
Bây giờ ta tính bằng số: nếu khối lượng con chim là 2 g, mật độ con chim bằng mật độ của nước 1 g/cm3, thì l\approx 1.25 cm. Mật độ không khí cỡ bằng 1.25 mg/cm3. Vậy thì cả hai biểu thức trong căn đều khoảng 800, nếu đặt C=1 thì tần số đâp cánh là 800 s-1.
Tần số này hơi cao quá, kết quả không chính xác bằng lời giải của bác ntzung. Ta “cheat” một tí. Tần số này chắc là radian/s, không phải là Hertz (một vòng 1 giây, tức là 2\pi/s). Ví dụ tần số dao động con lắc đúng ra phải là (1/2\pi)\sqrt{g/l}. Như vậy tần số đập cánh phải là
f =\displaystyle{\frac \omega{2\pi}}= \displaystyle{\frac C{2\pi}} \sqrt{\displaystyle{\frac g l}} \sqrt{\displaystyle{\frac\rho{\rho_{\rm air}}}}
Bây giờ mà cho C=1 thì tần số bằng 130 Hz. Kết quả bây giờ khá gần với kết quả thật (80 Hz)!
Mặc dù phương pháp thứ nguyên này không cho phép ta xác đinh chính xác hằng số C, nhưng nó cho ta sự phụ thuộc của tần số đập cánh vào khối lượng của con chim (giả thiết là các tỷ lệ giữa các bộ phận của con chim không thay đổi). Vì l\sim m^{1/3}, nên
f \sim 1/m^{1/6}
Nếu con chim nặng lên 64 lần thì tần số đập cánh giảm đi 2 lần. Biết rằng con chim ruồi nặng 2 g đập cánh 80 lần một giây, ta có thể tính được là một người nặng 60 kg, nếu đập cánh như con chim (và nếu tỷ lệ kích thước giữa cánh và thân cũng như của con chim) thì phải đập 14 lần một giây mới lơ lửng được trong không khí.