Monday, November 15, 2010

Blog Dam Than Son: Quiz about Humming Bird

Câu đố: con chim ruồi


Con chim ruồi nhỏ nhất có khối lượng khoảng 2 g.
Câu đố: đánh giá tần số đập cánh của con chim ruồi nhỏ nhất lúc bay đứng một chỗ.

Đáp án của GS Đàm Thanh Sơn:
OK, đây là đáp án. Rất tiếc tôi chưa có thời gian xem kỹ lời giải của các bạn, nhưng có vẻ là phần lớn các bạn đều đi đúng hướng.
Tôi dùng phương pháp thứ nguyên để đánh giá. Gọi kích thước của con chim là l. Trong phép gần đúng này ta không quan tâm đến hình dạng của con chim, coi như nó là một cục các chiều đại khái như nhau (ví dụ, coi con chim là hình lập phương). Nếu giả sử mật độ của con chim là \rho, khối lượng của chim là m, thì l =(m/\rho)^{1/3}. Trong phép gần đúng này, l cũng là kích thước của cánh con chim.
Lực đẩy trung bình F do con chim vẫy cánh phụ thuộc vào khối lượng riêng của không khí \rho_{\rm air}, kích thước cánh l, và tần số cánh vẫy \omega. \rho_{\rm air} đo bằng g cm-3, l đo bằng cm, còn \omega đo bằng s-1. Lực F thì đo bằng g cm s-2 (lực = khối lượng × gia tốc). Chỉ có một cách lập ra một biểu thức có thứ nguyên của lực từ \rho_{\rm air}, l\omega, đó là
F \sim \rho_{\rm air} l^4 \omega^2.
Cân bằng lực này với trọng lực gm = g\rho l^3, ta tìm được
\omega = C \sqrt{\displaystyle{\frac g l}} \sqrt{\displaystyle{\frac\rho{\rho_{\rm air}}}}
trong đó C là một hằng số, cỡ bằng 1, mà ta không thể tìm được bằng phương pháp thứ nguyên. Chú ý rằng \sqrt{g/l} là tần số dao động của một con lắc có độ dài bằng l. Như vậy tần số vỗ cánh của con chim khoảng bằng \sqrt{\rho/\rho_{\rm air}} lần tần số dao động của con lắc.
Bây giờ ta tính bằng số: nếu khối lượng con chim là 2 g, mật độ con chim bằng mật độ của nước 1 g/cm3, thì l\approx 1.25 cm. Mật độ không khí cỡ bằng 1.25 mg/cm3. Vậy thì cả hai biểu thức trong căn đều khoảng 800, nếu đặt C=1 thì tần số đâp cánh là 800 s-1.
Tần số này hơi cao quá, kết quả không chính xác bằng lời giải của bác ntzung. Ta “cheat” một tí. Tần số này chắc là radian/s, không phải là Hertz (một vòng 1 giây, tức là 2\pi/s). Ví dụ tần số dao động con lắc đúng ra phải là (1/2\pi)\sqrt{g/l}. Như vậy tần số đập cánh phải là
f =\displaystyle{\frac \omega{2\pi}}= \displaystyle{\frac C{2\pi}} \sqrt{\displaystyle{\frac g l}} \sqrt{\displaystyle{\frac\rho{\rho_{\rm air}}}}
Bây giờ mà cho C=1 thì tần số bằng 130 Hz. Kết quả bây giờ khá gần với kết quả thật (80 Hz)!
Mặc dù phương pháp thứ nguyên này không cho phép ta xác đinh chính xác hằng số C, nhưng nó cho ta sự phụ thuộc của tần số đập cánh vào khối lượng của con chim (giả thiết là các tỷ lệ giữa các bộ phận của con chim không thay đổi). Vì l\sim m^{1/3}, nên
f \sim 1/m^{1/6}
Nếu con chim nặng lên 64 lần thì tần số đập cánh giảm đi 2 lần. Biết rằng con chim ruồi nặng 2 g đập cánh 80 lần một giây, ta có thể tính được là một người nặng 60 kg, nếu đập cánh như con chim (và nếu tỷ lệ kích thước giữa cánh và thân cũng như của con chim) thì phải đập 14 lần một giây mới lơ lửng được trong không khí.

Sunday, November 14, 2010

Người về cố quận ...

Ông Gẫy Súng đã ... "lên tàu"

T.Vấn 




Tâm tình một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi
( Huy Cận )


Như vậy là ông Gẫy Súng đã lên tàu về quê.
Lần này thì súng của ông bị bẻ gẫy chẳng bởi tại người,hay bởi vận nước, mà bởi cái lẽ sinh lão bịnh tử mà không một ai thóat ra khỏi được vòng cương tỏa của nó.
Trước khi bước chân lên tàu, ông đã chiến đấu rất dũng mãnh và can trường, không kém gì trận chiến năm xưa dù sau đó súng của ông ( và của rất nhiều những chiến hữu của ông ) đã bị bẻ gẫy. Súng gẫy thì vất súng, ông cầm bút. Mấy chục năm nay lưu vong nơi xứ người, với cây bút trên tay ông đã làm được nhiều việc mà không phải ai cũng làm được. Cho đến giây phút ông không còn sức để cầm bút nữa, không một ai có thể bẻ gẫy được ngòi bút của ông. Và ông vẫn là một chiến sĩ cho đến giây phút cuối cùng. Một con Kình Ngư không hề biết sợ sóng, sợ gió.
Nay thì con Kình ngư sẽ về nằm yên nghỉ giữa biển cả mênh mông, ngày đêm nghe tiếng sóng vỗ rì rào như lời mẹ ru đón con ra khỏi cuộc đời, thay cho những tiếng thét đau đớn uất hận ngày nào trên bãi biển Thuận An  Huế).
Những người bạn chiến đấu của ông, những người nằm lại trên bãi biển Thuận An từ dạo tháng Ba năm ấy, hẳn sẽ vui mừng chào đón ông, như chào đón một chiến binh quả cảm đã dũng mãnh tiếp tục cuộc chiến, dù không cân sức, thay cho những đồng đội của mình bị lọai khỏi vòng chiến một cách tức tửi .
Tôi hình dung ra chuyến tàu “suốt “ vừa ngừng lại đón ông Gẫy Súng, đang từ từ tiến vào trạm cuối cùng. Trên sân ga, lố nhố những bóng người quen thuộc của bãi biển Thuận An năm nào. Người bạn chiến đấu năm xưa đã trở về, thể xác tuy mệt mỏi nhưng thần thái ung dung. Họ lại tiếp tục ngồi bên nhau uống rượu, hút thuốc lá, chửi thề, nhắc lại cho nhau những kẻ còn, người mất (trong thế giới của những người lính gẫy súng ở giờ thứ hai mươi lăm, kẻ còn tức người đã chết và người mất, tức những kẻ còn nặng nợ trần gian, chưa mãn hạn để có thể thảnh thơi bước lên tàu). Và chắc chắn, ông Gẫy Súng có rất nhiều điều để nói cùng bạn hữu. Bạn bè ông, ngoài nỗi vui gặp lại bạn cũ, hẳn còn nỗi vui khác lớn hơn. Ít nhất, thằng Tháng Ba Gẫy Súng đã nói lên được cho họ nỗi uất ức đến chết không thể nhắm mắt của một ngày tháng Ba năm 1975.
Chỉ với một tác phẩm, quyển hồi ký “Tháng Ba gẫy súng”, ông đã làm tròn vai trò một chứng nhân lịch sử, làm tròn sứ mạng thiêng liêng của một người cầm bút. Với người cùng thời, những người đã từng sát cánh với ông ở một bên chiến tuyến, ông là hiện thân của lương tâm, của sự dũng cảm, của những khát vọng được sống một cuộc sống bình thường như một con người bình thường. Với những người đã từng một thời cầm súng đứng ở bên chiến tuyến đối nghịch với ông và những bạn bè của ông, ông là ngọn gió thổi tan đi lớp sương mù ngộ nhận, gây ra bởi một guồng máy tuyên truyền vô nhân tính chỉ nhằm gieo cấy lòng thù hận giữa những người cùng một dòng máu đỏ da vàng. Với những thế hệ chưa một ngày sống qua chiến tranh, ông là ngọn đèn soi cho họ thấy sự thảm khốc cùng cực của chiến tranh, sự vô nghĩa của thân phận con người trong lửa đạn, sự độc ác vô luân của những tham vọng áp đặt chủ thuyết này, ý thức hệ nọ lên quốc gia dân tộc.
Tất cả những thành tựu không nhỏ ấy, lại là kết quả từ một tập sách mỏng, của một người vốn trước đó không phải là nhà văn. Theo lời một vị thầy của tôi (nhà văn Nguyễn Xuân Hòang), ông không phải là một nhà văn, nhưng đã viết nên “những trang văn xuôi lương thiện và giản dị về con người".
Tôi nhớ có người nào đó bảo rằng con người ta ai cũng có hai lần chết. Lần chết thứ nhất là khi thân xác được bỏ vào quan tài . Lần chết thứ hai là khi không còn ai nhắc đến tên mình nữa.
Nếu quả đúng như vậy thì ông Gẫy Súng của tôi chỉ chết có một lần.
Bao lâu người ta còn nhắc đến, còn bàn luận về cuộc chiến tranh tương tàn khốc liệt giữa những người Việt ở hai miền Nam Bắc thì ngày ấy người ta còn phải nhắc đến tên ông, nhắc đến những ngày cuối cùng bi thảm của cuộc chiến.
Hơn 25 năm nay, tiếng kêu bi phẫn của ông Gẫy Súng đã được nhiều người lắng nghe. Mỗi người, ở vị trí của mình – trong và sau cuộc chiến – đều mang một tâm trạng khác nhau khi đọc ông . Người ta có thể phản bác ông, nhưng tôi tin rằng , không một ai – dù là người ở bên kia chiến tuyến với ông – có thể nghi ngờ tính nhân bản phủ đầy những trang viết của Tháng ba Gẫy Súng, kể cả những trang mô tả sự tàn nhẫn khốc liệt nhất, kể cả ở những câu đối thọai độc ác nhất, kiểu “ Đụ mẹ, đánh giặc đã quá ông thầy!”
Khi tôi viết những dòng này, hẳn đôi mắt ông Gãy Súng đã nhắm lại (tôi tin như vậy, vì ông có quá nhiều lý do để thanh thản ra đi). Ông có mãn nguyện không? tôi không thể quả quyết. Nhưng nếu tôi là ông, tôi sẽ mãn nguyện. Những gì cần phải làm cho người chết với tư cách kẻ sống sót, ông đã hòan thành xuất sắc.
Ông ra đi, những vẫn còn lại những trang viết, những “ trang văn xuôi lương thiện và giản dị về con người". Vì chúng lương thiện và giản dị, nên chắc chắn chúng sẽ bất tử.
Cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã từng kêu lên: Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ? Giả như ba trăm năm sau ngày cụ Nguyễn Du lên tàu “suốt “, vẫn còn có người khóc cụ thì phỏng có ích gì cho cụ không khi thân xác cụ đã chỉ còn là nắm đất vụn. Điều quan trọng là những câu lục bát của cụ vẫn còn được lưu truyền không chỉ ba trăm năm, mà sẽ là ba ngàn năm, ba triệu năm nữa.
Còn ông Gẫy Súng của chúng tôi? Ông có cần phải thắc mắc rằng ba trăm năm sau liệu có còn ai nhớ đến ông không? Tôi không tin ông bận tâm về điều đó. Vì những trang viết lương thiện và giản dị của ông, không phải chỉ cho ông, mà còn cho một thế hệ tuổi trẻ (ở cả hai miền Nam Bắc) Việt Nam tội nghiệp. Nếu ba trăm năm sau, có kẻ hậu thế nào đó – nhờ đọc được Tháng Ba Gẫy Súng của ông – đã làm hết sức mình để tránh cho lịch sử của ba trăm năm trước lập lại, thế cũng đã quá đủ một đời phong ba rồi, phải không ông?
Mấy hôm trước, nghe tin ông đang ngấp nghé bên bờ tử sinh, tôi đã nhờ người quen kẻ biết nhắn với ông rằng “Chừng nào tới giờ lên tàu, ông cứ thanh thản lên tàu. Đừng lo cho chúng tôi. Thế nào cũng còn chỗ cho kẻ đến sau, chứ không phải như tháng Ba gẫy súng năm nào mà phải giành nhau đâu, ông Cao Xuân Huy ạ ! “.
Đường đời muôn vạn nẻo, nhưng chỉ có một nẻo đích thực để trở về cố hương. Đó là lối nhỏ đi qua những tấm lòng bằng hữu, với hành trang trên vai là lòng thương yêu của những người thân kẻ thuộc trong gia đình.
Ông Gẫy Súng của tôi ơi! lối nhỏ bằng hữu đang hân hoan đón chào ông, hành trang thương yêu của gia đình đang sẵn sàng chờ ông ghé vai đỡ lấy.
Chúc người về cố quận thượng lộ bình an !
T.Vấn

Wednesday, November 10, 2010

Đi vào cõi thơ

Bùi Giáng
(Tuệ Sỹ, Trương Cam Vũ, René Crayssac, Huy Cận)
 
 
 
Tựa
Đi vào cõi thơ theo lối ngẫu nhiên tao ngộ. Cơ duyên sẽ dun dủi… Chẳng nên gò ép cưỡng cầu.

Người viết sách này có dụng tâm không sắp đặt theo thứ tự thứ loại thường thấy. Những bài thơ đến rồi đi. Lời “nhận định” cũng đi rồi đến…
Bùi Giáng


Tuệ Sỹ

Tuệ Sỹ là một vị sư. Ông viết văn nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u …

Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt.

Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghiệu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.

Nhưng có ai ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ Không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ.
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.

Tôi hoảng vía đề nghị: Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho. Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.

Ông đáp: - Để về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Cung trời
Hội cũ

Xin viết xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? – Cung trời hội cũ. Một hội đạp thanh? Một hội nao nức? – “Giờ nao nức của một thời trẻ dại?”.

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ…

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh… Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.

Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều “phải nói” với mọi người “muốn nghe”, với riêng mình “không thiết chi chuyện nói”.

Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay là chẳng nghe.

Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng có chi giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả - par manque de justice interne.

Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa một đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.

Vua Gia Long ngày xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du: - “Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam, kẻ Bắc. Ai có tài thì trẫm trọng dụng (……..) Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế?”.

Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cõi mộng thần di, hồn dịch!

Vua đã ban cho chan hòa mưa móc, ơn Thánh Đế đã dồi dào với Liệp Hộ như thế, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn cứ như thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.

Đáp: Ấy chính bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Cung trời hội cũ.

Đôi mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt? Vì lệ trào, hay vì quá long lanh?

Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng niệm cho thơ.

Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ.

Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang…

Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?

Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng có về Sài Gòn tới chùa viếng ông, đem quà cho ông một đôi giép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Cung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ. Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn.

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?

Mình là thân bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?

Phải có nhìn thấy gương mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng.

Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Ta tưởng như nghe ra “cao cách điệu” bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzsche.

Thi nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?

Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du:

Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Một tiếng “buồn chăng” lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tân thanh đoạn trường:

Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi:

Đếm tóc bạc
Tuổi đời
Chưa
Đủ
Bụi đường dài
Gót
Mỏi
Đi
Quanh

Tiết điệu cũng rời rạc như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ? Một tuổi Xuân chưa vừa? Một tuổi vàng sớm chấm dứt? Một tuổi “đá” sớm giã từ mọi yêu thương?

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn…

Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường vôi nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.

Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.


Trương Cam Vũ

Trương Cam Vũ là người thy sỹ đã dịch Truyện Kiều ra Hán Thi.

Bản dịch đạt tới mức tối đa của tinh thể Hoa Thi. Chúng tôi đã bàn nhiều trong tập Mùa Xuân Trong Thi Ca. Ở đây không tiện nói nhiều.


René Crayssac

René Crayssac là thy sỹ Pháp đã đem Truyện Kiều dịch ra thơ Pháp.

Bản dịch huyền diệu ở chỗ: Ông đã đòi hỏi ở Pháp Ngữ một thể điệu nào Pháp Ngữ vốn không có, và đùng một cái, Nguyễn Du trong bản Pháp mang đầy rẫy tinh thể Cựu Hy Lạp Homère.

Sự tình này được đề cập tới trong tập Mùa Xuân Trong Thi Ca. Ở đây không tiện nói nhiều.


Huy Cận

Hồn lưu lạc chưa hề thờ một chúa
Yêu một người ta dâng cả tình thương

Câu thơ đó dường như là cái chìa khóa mở đường vào cung thành Lửa Thiêng.

Huy Cận chẳng khi nào trực tiếp nói tới tình yêu một cách quay quắt sôi cuồng như Xuân Diệu, hoặc tràn lan ra như Nguyễn Bính.

Huy Cận kín đáo ngậm ngùi. Và thỉnh thoảng vài lời chân thành thăm thẳm của ông bỗng xô nguồn thơ tình yêu kia vào một cõi thống thiết cổ kim chưa từng có.

Bóng đêm tỏa không lấp niềm thương nhớ
Tình đi mau sầu ở lại lâu dài
Ta đã để hồn tan trong tiếng thở
Kêu gọi người đưa tiễn nỗi tàn phai

Bốn câu đơn giản thiết tha đôn hậu thượng thừa như thế, chính là vùng khí hậu riêng biệt để toàn thể cuốn Đoạn Trường Tân Thanh Nguyễn Du đi về ngưng tụ hết mọi màu hương vang bóng.

Huy Cận là người đồng quận Nguyễn Du – Hà Tĩnh. Sông núi non nước kia đẹp dị thường. Và con người đất nước kia sống lận đận làm ăn cày cấy cũng cực nhọc dị thường. Giữa phong cảnh và con người từ đó liên miên có một cuộc đối thoại thiết tha không lời, về một nỗi bất khả tư nghì. Tình yêu sẽ đưa con người ta tới một cõi xót xa, là căn bản cho một cuộc phát nguyện từ bi, gây dựng nên những thiên tài vô song của Hồng Lĩnh.

Chỉ những thiên tài Hồng Lĩnh mới thành tựu một cuộc Trùng Phục dị thường giữa vũ trụ trời mây phong cảnh.

Phong cảnh trong thơ Huy Cận là một loại phong cảnh đã khiến con người mở những cuộc “Lữ” huyền hoặc của Dịch Kinh. Khổng Tử đã chu du theo một cuộc Lữ dị thường Homère Hy Lạp, mà con người ngày nay không thể nào quan niệm được ra.

Xa nhau mười mấy tỉnh dài
Mơ màng suốt xứ đêm ngày nhớ nhung
Tâm tình một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi.

Nguyễn Du đã làm Liệp Hộ. Huy Cận đã đi muôn trùng. Mặc dù các ông có thể ngồi im lìm giữa một triều đình, các ông vẫn cứ thành tựu cuộc “Lữ” như thường, nơi một triều đình khác, riêng ở một góc trời miêu cương mạc ngoại.

Trông vời trời biển mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đàng ruổi rong.
Dừng cương nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon
Đi rồi khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu.

Tiếng nhỏ thưa tràng đạc đó bàng bạc tịch liêu trong Lửa Thiêng cũng như suốt Đoạn Trường Tân Thanh, là khởi từ một duyên do uyên nguyên thăm thẳm, mà bấy lâu ta không ngờ tới, nên thường ngạc nhiên tự hỏi vì lẽ gì thơ Huy Cận lại đạt tới hai chóp đỉnh huyền diệu nhất ở hai cõi chênh vênh: thơ phong cảnh của ông không ai đi kịp; thơ tình yêu của ông khiến mọi thiên hạ đầu hàng.

Tình yêu và lữ thứ, lữ thứ và không gian, đó là những gì quyết định hết nguồn thơ Lửa Thiêng. Bao nhiêu màu quan san ly biệt bàng bạc trong Truyện Kiều, bỗng nhiên về quy tụ tinh hoa trong một bài “Thuyền Đi” của Huy Cận.

Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên
Thuyền đi sông nước ưu phiền
Buồm treo ráng đỏ giong miền viễn khơi


Sang đêm thuyền đã xa vời
Người ra cửa biển nghe hơi lạnh lùng
Canh khuya tạnh vắng bên cồn
Trăng phơi đầu bãi nước dồn mênh mang


Thuyền người đi một tuần trăng
Sầu ta theo nước trường giang lững lờ
Tiễn đưa dôi nuối đợi chờ
Trông nhau bữa ấy bây giờ nhớ nhau.

Lời thơ đi phiêu phiêu, tuyệt nhiên không thấy dấu vết một chút kỹ thuật nào còn vướng sót. Tưởng như không còn một chút cố gắng tìm lời lựa ý gì hết cả. Nguồn thơ ngập tràn dâng lên nhẹ nhẹ, len lõi thấm nhuần mọi ngôn ngữ ly biệt Nguyễn Du và toàn thể Đông Phương Lữ Thứ, Tây Phương Lang Thang.

Các bạn thử thong dong hình dung lại cái khối Đường Thi Vương Duy, Lý Bạch, Thôi Hiệu, Thôi Hộ, Cao Thích, Sầm Tham, Apollinaire, xem thử có một cái gì lọt ngoài vòng lục bát Huy Cận kia chăng.

Chúng ta quen thói ngóng chạy theo đuôi mọi thứ trào lưu chủ nghĩa, chúng ta tuyệt nhiên không còn giữ một chút tinh thể cỏn con nào cả để thể hội rằng lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển ba bảy sông hồ.

Cái thói học đòi vá víu thông thái đã âm thầm giết chết mất máu me thân thể chúng ta. Hết chạy theo đuôi ông Camus, tới chạy theo đít bà Simone Weil, rồi xô ùa chạy theo giò cẳng ông Krishnamurti. Nghĩ rằng cũng đáng tủi cho cái kiếp con người. Nhục cho cái phận con ngợm.

Đó chính là cái lõi của lai rai thượng thừa, của bê bối tối hậu. Tới bao giờ mới chịu đi về giũ áo đười ươi? Hỡi những thằng trung niên thy sỹ, và hỡi những đứa chẳng thi sỹ trung niên. Cái trò ma quái lóc lăn nọ, kể cũng đáng tởm hơn cuộc dập dìu mà Tú Bà đã bố trí cho Nuồng Thúy xưa kia.

Cái tinh thần nô lệ không tự biết mình nô lệ, cái tinh thần ấy nó thấm nhập tủy xương chúng ta đến độ nào, mà mỗi phen chúng ta kêu gào tự do, đòi hỏi tự tại, gào thét tự tôn – càng mỗi phen cho thấy hiện thị lù lù cái linh hồn đĩ điếm.

Chúng ta thà chui vào một cái hang dế đen ngòm, một cái hang chim đen ngộm, một cái hang chuột đen thui, cam lòng thờ phượng Brigitte, sùng phụng Bardot, chui đầu vào tà xiêm Monroe để nằm ngủ, hơn là phải đi thức tỉnh tự do trong cái bầu khí hậu gớm guốc kia.

Nghĩ cũng kỳ dị thật. Người Việt Nam vốn là người thơ mộng thy sỹ nhất thế giới (Chỉ riêng cái màu da vàng Việt Nam thôi cũng đã thơ mộng hơn mọi màu da đen trắng) thì người Việt Nam lại chẳng bao giờ đọc thơ Việt Nam, lại luôn luôn đem trút hết cõi lòng thơ mồng của mình cho những thứ sách vở thổ lốn tạp pí lù ở đâu đâu. Lại chạy đi si mê những da trắng Marilyn những da đen phi châu chiêm bao bờ cỏ. Làm bao nhiêu thơ mộng lại đem gán hết cho châu chấu chuồn chuồn. Ẩn ngữ gì mà đoạn trường ra như thế. Lâu lâu lại còn ca ngợi tài hoa ông Kút Xếp, tài liệu ông Vương Dương Minh.

Thôi thì thôi cũng chìu lòng
Cũng cho nghỉ nghị trong vòng lai rai.

Huy Cận cũng đã có phen gián tiếp giải oan cho mọi người lưu lạc:

Hỡi Thượng Đế! Tôi cúi đầu trả lại
Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang
Sầu đã chín xin người thôi hãy hái
Nhận tôi đi dù địa ngục thiên đường…

Huy Cận nói cái lời gì bao la như thế? - Nhận tôi đi dù địa ngục thiên đường?

Đáp: Huy Cận đã khai tỏ cái chỗ u ẩn nhất trong ngôn ngữ Jesus Christ.

Và đọc Huy Cận, chư vị Bồ Tát ắt phải gật đầu với Long Thọ Bồ Tát mà rằng:

“Chư Phật vô lượng phương tiện lực, chư pháp vô quyết định hướng; vị độ chúng sinh, hoặc thuyết nhứt thiết thực, hoặc thuyết nhứt thiết bất thực, hoặc thuyết nhứt thiết thực bất thực, hoặc thuyết phi thực phi bất thực…” (Xem Sương Bình Nguyên, trang 490).

Cũng vì lẽ đó, nên lần giở Dịch Kinh, chúng ta đọc lại ngôn ngữ thi ca của Khổng Tử:

“Hữu thiên địa, nhiên hậu vận vật sinh yên, doanh thiên địa chi nhàn giả. Duy vạn vật, cố thụ chi dĩ Truân. Truân giả doanh dã. Truân giả vật chi thủy sinh dã. Vật sinh tất Mông, cố thụ chỉ dĩ Mông. Mông giả Mông dã. Vật chi trĩ dã, vật trĩ bất khả bất dưỡng dã. Cố thụ chi dĩ Nhu. Nhu giả ẩm thực chi đạo dã… Ẩm thực tất hữu Tụng. Cố thụ chi dĩ Tụng. Tụng tất hữu chúng khởi. Cố thụ chi dĩ Sư… vân vân vân vân vân vân…”

Từ cõi Vô Ngôn của Bồ Tát tới cõi Vô Ngôn của Khổng Tử chúng ta trở lại với Kiều, Lửa Thiêng, sẽ nhận ra một chân lý mà không có sách vở học giả ru rú nào có thể chỉ vẽ ra. Phusis sơ nguyên Hy Lạp cũng lại lập lòe hiện thị một cách phong nhiêu dị thường trong hai câu mở đầu bài “Thuyền Đi”:

Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên.


Thuyền Đi

Thuyền đi là nước đi, thời gian đi, hay đời người đi? biệt ly, nói tóm lại?

Nhưng tại sao bài thơ “Thuyền Đi” của Huy Cận lại xa vắng mênh mông hơn bất cứ một bài thơ ly biệt nào xưa nay? Nó tiềm ẩn những tố chất gì như thế?

Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên
Thuyền đi sông nước ưu phiền
Buồm treo ráng đỏ dong miền viễn khơi


Sang đêm thuyền đã xa vời
Người ra cửa biển nghe hơi lạnh buồn
Canh khuya tạnh vắng bên cồn
Trăng phơi đầu bãi nước dồn mênh mang


Thuyền người đi một tuần trăng
Sầu ta theo nước tràng giang lững lờ
Tiễn đưa dôi nuối đợi chờ
Trông nhau bữa ấy bây giờ nhớ nhau

Bài thơ mười hai câu cả thảy. Mười hai câu lục bát Huy Cận trông giống như một cung thành Đông Á, một chùa chiền Á Đông, một tượng vân thạch, hoặc đồng đen Đông Phương đang nhô lên nhìn sang khối Sơ Nguyên Hy Lạp.

Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên

Một cái gì bỗng dưng về giữa hai câu thơ, một cái gì đồ sộ, bất tuyệt, vô thủy vô chung về trong một lúc? Phải là Thời Gian của Vĩnh Viễn về trì ngự trong Phusis Mở Phơi? Về trong một lúc? Là về trong một Sát Na của Viên Mãn Viên Dung cho âm dương tịch hạp? Cuộc Nảy Nở của Càn Khôn đang phơi mở thịnh triều trì ngự trong tiếng “trăng lên, triều lên”. Tươi thắm của Sơ Khai hiển hiện trong những tiếng “gió về trong lúc, trăng lên, đang chiều…”

Hai câu thơ đong đưa kỳ ảo dìu Thiên Nhiên về giữa lòng vạn vật để thành tựu cái mà người xưa đã thể nghiệm thiên hình vạn trạng qua những tiếng Vĩnh Thể và Tồn Lưu, Thời Gian và Thời Thể. Một cái gì nhiệm màu cũng song trùng về trong những tiếng “là là” nhịp điệu của Nguyễn Du.

Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh

Trong bài thơ Huy Cận, cuộc Lễ Hội ấy đang hiễn hiện trong cảnh trời là nơi chốn của Phùng Ngộ trong chia ly. Một cuộc hôn phối dị thường mà Khổng Tử xưa kia cũng đã từng thể nghiệm qua cuộc Lữ.

Thiên Nhiên rộng rãi đang lên lời giục giã người lên đường lữ thứ để thành tựu cuộc Trùng Phục Quy Hồi trong mỗi bước chân đi.

Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên
Thuyền đi sông nước ưu phiền
Buồm treo ráng đỏ giong miền viễn khơi

Ra đi như thế là kết hợp vũ trụ vào trong nhịp lưu ly của tại thể mình. Dìu tồn lưu về để mở phơi ra và đón nhận lấy. Cái ân huệ vô ngần kia đòi hỏi những cuộc ra đi, từ giã cõi miền đóng kín quanh quẩn trong nếp quen thuộc nhân tuần. – “Lữ chi thời nghĩa đại hỹ tai !”.

Cái nghĩa thời của cuộc Lữ to lắm lắm thay!

Nỗi ưu phiền của sông nước kia là một niềm kỳ vọng, một niềm chúc phúc lên đường.

Sang đêm thuyền đã xa rồi
Người ra cửa biển nghe hơi lạnh lùng

Thế thì các cuộc đi kia đã khiến cho sự hiện diện của kẻ đi càng bát ngát thêm trong cơn khiếm diện.

Kẻ đi và toàn thể cái khối gì đang đi?

Và do đó một cõi mênh mông nào đang phát hiện tinh thể? Cõi thái hư tịch mịch? Cõi sầu bi siêu thoát?

Canh khuya tạnh vắng bên cồn
Trăng phơi đầu bãi nước dồn mênh mang
Thuyền người đi một tuần trăng
Sầu ta theo nước tràng giang lững lờ

Có cuộc đi trong một tuần trăng thời thể, mới có theo về trong một xứ sở của bỉ ngạn chon von. Thời gian được thời thể hóa. Thời thể được thể nghiệm trong Mnemosyne Ký Ức lưu tồn. Nó giữ lại một cái gì trường lưu hằng cửu mà con người vong thể ngày nay chẳng thể nào thể hội được nữa. Chạy theo đuôi danh từ lí nhí, đem phân chia cắt xén thời gian ra làm khoảnh khắc tủn mủn, rồi chối bỏ lung tung chẳng còn rõ mình đang tham dự vào cái cuộc nhảy múa ma trơi nào thiểu não.

Thuyền người đi một tuần trăng
Sầu ta theo nước tràng giang lững lờ
Tiễn đưa dôi nuối đợi chờ
Trông nhau bữa ấy bây giờ nhớ nhau

Cuộc ra đi như thế trở thành cuộc lên đường lữ thứ tìm lại tinh thể mình. - Hãy trở thành… Nhà ngươi là gì, hãy trở thành cái ấy. “Deviens ce que tu es” – Té ra con người phải đi một cuộc mười lăm năm, rồi ra mới nhận chân được tinh thể mình nằm tiềm ẩn trong cung đàn ban sơ bạc mệnh: và từ đó? – phát nguyện đại từ bi?

Đức Khổng còn khổng lồ nói lên sự đó một cách đơn sơ ẩn mật vô ngần:

“Hữu thiên địa, nhiên hậu vạn vật sinh yên, doanh thiên địa chi nhàn giả, vạn vật, duy cố thụ chi dĩ Truân… Truân giả doanh dã. Truân giả vạn vật chi thủy sinh dã. Vật sinh tất Mông, cố thụ chi dĩ Mông…”

Bấy lâu chúng ta quen nghĩ rằng Huy Cận chỉ là nhà thơ có cảm giác bén nhạy và tài hoa riêng biệt trong phép tả cảnh tả tình sầu. Nhưng thật ra Huy Cận là khối óc vĩ đại đạt tới một cõi tư tưởng bát ngát nên tự nhiên như nhiên, lời thơ ông đi vào trong phong cảnh bao la, dội vào đáy thẳm thiên nhiên, và gửi lại cho ta những dư vang bất tận. Khối óc kia cũng là thông tuệ của tâm thể thiên tài.

Chết

Chân quấn quít rồi đến ngày nghỉ bước
Miệng trao lời rồi đến buổi làm thinh
Thân có đôi chờ lúc ngủ một mình
Không bạn lứa cũng không mền ấm nóng


Tai dưới đất để nghe chừng tiếng sống
Ở trên đời - đầu ấy ngửng lên cao
Sẽ nằm im! Ôi đau đớn chừng nào
Thân bay nhảy giam trong mồ nhỏ tí


Một dáng điệu suốt trăm nghìn thế kỷ
Ngày sẽ về gió sẽ mát hoa tươi
Muôn trai tơ đi hái vạn môi cười
Làn nắng ấm vào khua trong lá sắc


Nhưng mắt đóng trong đêm câm dằng dặc
Còn biết gì đất ở trên kia
Bướm bay chi! Tay nhậy đã chia lìa
Tình gọi đó nhưng lòng thôi bắt mộng


Bỏ chung chạ để nằm khô một bóng
Chẳng ai vào an ủi nắm bàn tay
Khổ bao nhiêu cho một kẻ hằng ngày
Tìm thế giới để làm khuây lẻ chiếc.

Huy Cận tặng Thần Chết một bài thơ cảm động. Nói là tặng Thần Chết nhưng cũng là dâng cho Cuộc Sống. Cuộc Sống ôi! Hình dạng của Thần Chết đã ra như thế thì Thánh Sống nghĩ sao?

Ắt nghĩ rằng: nên kiệt tận miên bạc bình sinh để sống cho đậm đà thơ mộng. Vì không làm thế, thì cái sống sẽ giống tợ tợ như cái chết.

Cái chết trông dị dạng quá. Mà hằng ngày vô tình ta sống theo lối chết đó. Tuy không đến nỗi căm căm gớm guốc như thế, nhưng cũng tai hại điêu linh gần bằng. Chúng ta dường như quên mất rằng mỗi người chỉ có một cuộc sống thật xinh, và cuộc sống đó rất có thể bị những thứ tai hại trong hồn ta làm cho méo mó đi. Và meo mốc tử khí bám đầy rẫy cái hình hài cuộc sống.

Tiếc sao! Tiếc sao! Một sự sống quá đơn sơ, chúng ta cứ đời đời quên bẵng.

Xin một lần thử thong dong nhìn lại rõ bộ mặt cái chết, để hỏi lại linh hồn mình nên nhớ lại chuyện chi.

Thì từ đó rất có thể rằng cái chết hãi hùng sẽ là một cơ hội huy hoàng cho cái sống thành tựu được tinh hoa. Ta sẽ nhìn các em, các em sẽ nhìn con chim, con cá. Con cá sẽ nhìn con giế con giun… Mọi mọi sinh vật sẽ mọi mọi nhìn nhau bằng một nhãn quan khác hẳn. Và cõi đời từ đó sẽ đúng là đời cõi của yêu thương.

Đức Phật ôi! Chính Ngài đã có cái dụng tâm giống như chàng Huy Cận. Ngài đã đem những não nùng sinh lão bệnh tử ra nói lên cho kiếp phù du thể hội cái nghĩa não nùng, là phát nguyện bi tâm để dìu tồn sinh về bỉ ngạn…

Cái chết được thể nghiệm sâu xa sẽ trở thành cái khả năng vô thượng của con người mang một cái sống phù du. Đó là lý do (do lý) đã khiến ông Heidegger đem cái chết mà thiết lập căn cơ cho cái sống của Dasein. Và gọi rằng: con người ta là một sinh - thể - cho - tử - diệt.

Tinh thể của con người là: sinh - thể - cho - tử - vong?

Thì tử diệt tử vong chính là Tặng Vật vô ngần cho Sinh Thể. Sinh Thể sẽ ôm cái Tặng Vật vô ngần đó mà đi khắp mặt biển dâu lảo đảo.

Em quốc sắc, em thiên hương, em hoàng hậu, em nữ chúa, em giai nhân da vàng, em mọi nào da trắng, em mọi nào da đen…

Thảy thảy mọi mọi em em cùng chia nhau cái món quà kỳ ảo. Thì can chi các em lại bảo rằng cái da vàng thơ mộng hơn cái da đen? Cái da trắng văn minh hơn cái da đỏ?

Buổi hội trần gian sẽ từ đó mà mất vui. Thế giới mất ân tình. Cõi đời mất đời cõi. Thì lễ hội mất đi cái gọi là. Là gì? Ban sơ xuân xanh ngày đó, ông Nguyễn Du đã bảo rằng:

Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh

Hội đạp thanh mất đi cái ý nghĩa vô ngần của thanh đạp, một phen thanh đạp trở thành đạp thành, phá lũy, theo thể điệu Caligula. Ấy cũng chỉ vì đăm đăm riêng nghĩ tới hội là đạp thanh, mà bỏ quên cái tình riêng của lễ là tảo mộ…

Ai chết đó? Nhạc sầu chi lắm thế?
Kèn đám ma? Hay ấy tiếng yêu thương
Của cuộc đời…

Tiếng đau thương đó của cuộc đời dội vào cuộc sống, thì cuộc sống đổi hình thay dạng…

Tôi nhớ lại ngày tháng chuyển dịch
Những thay hình đổi dạng mở phơi
Trong ly nước mộng tuyệt vời
Mối sầu dao động nỗi đời giao thoa
(Apollinaire)

Cuộc sống thay đổi hình dạng theo thể thái sầu bi ngậm ngùi đó trong tâm hồn người ta. Cũng có thể nó đổi dạng theo lối tuyệt vô hy vọng, hoặc điên cuồng, hoặc rồ dại. Nhưng cuối cùng, phải nên dìu nó về thể thái thanh thản khiêm tòng… Cạo đầu sạch sẽ đi tu? Đi làm đạo sỹ? Hay tiếp tục làm thy sỹ phiêu bồng? Làm nhà thương mãi đi buôn? Kỹ nghệ gia? Làm gì thì làm, cũng hơn là làm Caligula vậy.

Ngày còn đi học, hai bài thơ “Chết”, “Nhạc sầu” của Huy Cận đã gây chấn động dị thường cho tôi. Tôi bỏ học, chẳng thiết chi sách vở. Chạy về quê làm thằng chăn bò. Bao nhiêu thơ làm ra, tôi âm thầm tặng hết cho chuồn chuồn châu chấu!

Thế cũng là một cách chịu chơi với Thần Chết vậy. Nghe tin Marilyn Monroe lìa đời, tôi buồn bã suốt mấy tháng. Phải chi bình sinh nàng có đọc thơ Huy Cận, ắt nàng chẳng nên giận phận gì mà vội ngang tàn tính mệnh như thế.

Bây giờ tôi xin chậm rãi chép bài “Nhạc Sầu” ra tặng nàng. Mong rằng ở dưới suối vàng nàng hãy bỏ chút thì giờ đọc giải trí cho vui.

Nhạc sầu

Ai chết đó! Nhạc buồn chi lắm thế
Chiều mồ côi đời rét mướt ngoài đường
Phố đìu hiu màu đá cũ lên sương
Sương hay chính bụi phai tàn lả tả


Từng tiếng lệ ấy mộng sầu úa lá
Chim vui đâu? Cây đã gẫy vài cành
Ôi chiều buồn! Sao nắng quá mong manh
Môi tái nhạt nào cười mà héo vậy


Ai chết đó! Trục xoay và bánh đẩy
Xe tang đi về tận thế giới nào
Chiều đông tàn lạnh xuống tự trời cao
Không lửa ấm chắc hồn buồn lắm đó


Thê lương vậy mà ai đành lìa bỏ
Trần gian sao? Đây thành phố đang quen
Nhưng chốc rồi nẻo vắng đã xa miền
Đường sá lạ thôi lạnh lùng biết mấy


Và ngựa ôi đi nhịp đằm chớ nhảy
Kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời
Ai đi đưa, xin đưa đến tận nơi
Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi


Người đã chết. Một vài ba đầu cuối
Dăm bảy lòng thương tiếc đến bên mồ
Để cho hồn khi sắp xuống hư vô
Còn được thấy trên mặt người ấm áp


Hình dáng cuộc đời từ đây xa tắp
Xe tang đi xin đường chớ ghập ghềnh
Không gian ơi xin hẹp bớt mông mênh
Áo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt


Và ngươi nữa tiếng gió buồn thê thiết
Xin lặng giùm cho nhẹ bớt cô đơn
Hàng cờ đen như bóng quạ chập chờn
Báo tin xấu dẫn hồn người đã xế


Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế
Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương
Của cuộc đời? Ai rút tự trong xương
Tiếng nức nở gởi gió dường quạnh quẽ
Sầu chi lắm trời ơi chiều tận thế…
(Huy Cận)

Nhưng cố nhiên, chép xong rồi thì nên xếp giấy lại, ra đường phố dạo một phen rong chơi. Để nhìn lại đậm đà những tà áo phấp phới. Chẳng nên đăm chiêu dằng dặc. Chẳng nên o bế cái chết. Kéo dây dưa cuộc tình duyên với Tử Thần, là điều tối kị. Nó có tính ăn hiếp. Ta lân la chơi đùa với nó, thì nó rút mòn xương tủy ta.

Bây giờ nên ngâm chơi vài vần “Tặng Em Mười Sáu” của Huy Cận:

Tặng em mười sáu

Em mười sáu xuân lang vừa độ tốt
Trời trong sáng sông trôi vui chim lảnh lót
Để tay ngời nối lại với tay anh
Anh thấy mơ hồ huyền diệu mong manh


Một giải lụa quấn qua hồn đây đó
Nỗi vui cũ ngày nay anh lại có
Thêu đời hồng anh nói ít lời hoa
Em ca lừng cho bốn phía sinh ca


Đem dâng tặng mặt trời muôn thuở mới
Hãy đẹp giọng khúc huy hoàng vời vợi
Nhạc tưng bừng tuôn chảy tự hồn vui
Thuyền du dương anh cầm lái em mui


Chèo một nhịp hò khoan cùng vũ trụ
Em mười sáu ấy hoa đời đương nụ
Nở xuân quang anh vừa quá hai mươi
Ta nối tay tròn kết một vòng tươi


Mà vẫn lấy cuộc đời. Em có thấy
Trong máu thắm dòng vui luôn tiếp chảy
Suối hân hoan cuồn cuộn sóng dương hòa
Làm nụ cười cho vạn vật muôn hoa
Em! Nào ta hát bài Thiên Cổ Lạc
(Huy Cận)

Nguồn thơ vui nhất của Việt Nam nằm trong Huy Cận. Mà nguồn thơ buồn nhất Việt Nam cũng là nơi Huy Cận. Sự đó không còn chi đáng nên ngạc nhiên.

Huy Cận đã sống trọn vẹn với linh hồn mình, vì thế ông sống trọn linh hồn nhân gian. Nguồn thơ ông chảy khắp mặt buồn vui của nhân thế.

Từ Nguyễn Du đến chúng ta bây giờ, chỉ có một Huy Cận mà thôi. Một Quang Dũng mà thôi. Một J. Leiba, Kiên Giang, Hồ Dzếnh mà thôi.

Và mọi mọi chúng ta cũng từ đó mà mọi mọi được có một nguồn thơ duy nhất của ta ta mọi mọi mà thôi.

Ta còn bận tâm chi nữa về câu chuyện xếp loại, định nguồn, nhận riêng khuynh hướng?

Huy Cận có làm văn nghệ văn ngừng gì đâu. Thi sĩ chân chính cổ kim có một ai chịu thiết lập trường trại gì đâu. Họ vào cuộc Lễ Hội Trần Gian cũng đơn sơ như con chim về Mùa Xuân ca hót. Đến từ xứ lạ? Xứ quen? Xứ xa xuôi vô ngần thân thuộc? Ngứa cổ hát chơi? Khi gió nắng vào reo um khóm lá? Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời? Chim ngậm suối đậu trên cành bịn rịn? Kêu tự nhiên nào biết bởi sao ca? Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín? Khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa?

Họ đơn sơ hồn nhiên như thế. Sao ta lại cầu kỳ buộc họ phải cầu kỳ gay cấn như ta? Họ có đòi hỏi chi đâu? Họ chẳng bao giờ tranh giành địa vị? Chẳng bao giờ chịu làm thần tượng. Chỉ xin vào cuộc Hội Hoa Đăng, ca một lời cho Hoa Đăng xán lạn. Cho mọi người cùng yến tiệc giữa Hoa Đăng…

Khi ta đến các ngươi đà đến cả
Có Thiên Nhiên Suối Chị với Rừng Anh
Cỏ vạn dại đã quen chiều óng ả
Liễu thiên thu từng thuộc lối buông mành

Thơ Huy Cận dịu dàng như thế đốt cháy bỏng máu me ta bởi ông đơn giản ca ngâm. Ông chân thành khiêu vũ. Đừng ai nỡ đem gán bừa cho họ những gì họ chẳng hề có bận tâm. Bao phen chúng ta từng tàn nhẫn một cách quá vô tình. Và vì thế, họ đành quay lưng trốn chạy. Kêu gọi buổi chiều về bên mình để tâm sự cô đơn:

Chiều ơi hãy xuống thăm ta với
Thiên hạ lìa xa đời trống không
Nắng xế ngậm ngùi bên mái cũ
Đìu hiu bên phố nhớ bên lòng

Thiên hạ lìa xa? Thiên hạ vẫn ngồi đó. Vẫn làm thơ tặng nhau. Nhưng cũng bằng gấp mấy quan san trong gang tấc. Vì đã tuyệt dòng chân thành tương ứng. Mỗi người mỗi đánh lạc mất linh hồn tinh thể mình, và mỗi mỗi đầy đọa nhau dằng dặc…

Đã mấy năm rồi thơ nở hoa
Trang vui cũng lúc lệ buồn nhòa
Giòng đời cũng nặng sầu lưu thủy
Tóc nặng sầu tư gió thổi tà


Chiều ơi gặp gỡ đã đòi cơn
Sương lạnh dồn thêm lệ tủi hờn
Một buổi xưa kia phòng vắng bạn
Đó ngày quen biết với cô đơn

Buổi hoàng hôn dị thường nào xưa kia Nguyễn Du đã nhìn và tâm sự? Buổi hoàng hôn nhân loại. Ngày tận thế đó chăng? Không có lẽ như thế. Vì lời thơ thân thiết vẫn như âm thầm báo hiệu một bình minh sắp mọc trong hoang liêu:

Có lúc xa người bởi quá yêu
Than ôi sông núi lại buồn nhiều
Mây xa lạc gió bên trời vắng
Đời bạt lòng ta lại gặp chiều.
Nguồn: Ca Dao xuất bản lần thứ nhất tại Sài Gòn năm 1969. An Tiêm tái bản lần thứ nhất tại Paris năm 1998. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Tuesday, November 9, 2010

Chùa thu

Đông A


Photobucket
Uki ware o sabishi gara seyo  aki no tera
Basho

Ưu sầu
tôi cảm thấy tịch liêu
chùa thu

Những ngôi chùa ẩn mình trên núi. Thu tới chúng lại như ẩn mình trong đám lá vàng. Tôi nhớ tới câu thơ của Nguyễn Du "Cổ tự thu mai hoàng diệp lý / Tiên triều tăng lão bạch vân trung", Ngôi chùa cổ bị mùa thu vùi trong đám lá vàng, vị tăng từ triều trước già đi giữa đám mây trắng. Lại hai màu vàng-trắng của mùa thu. Tôi tới Huế nhiều lần, nhưng chưa tới vào mùa thu. Không biết Nguyễn Du đứng ở đâu ngắm nhìn chùa Thiên Thai (tức chùa Thiền Tôn) mà thấy như vậy. Mùa thu là mùa của u sầu và tịch liêu. Mùa của cô đơn và ưu tư. Mùa của tuyệt mỹ. Basho đang ưu sầu, ngôi chùa giữa mùa thu càng làm ông thêm cô đơn. Chùa vốn đã tịch mịch, lại thêm mùa thu càng trở nên tịch liêu, cô quạnh. Một mình với mùa thu như ngôi chùa cô liêu giữa mùa thu bạt ngàn. Đẹp và buồn

Thursday, November 4, 2010

Treo ấn từ quan về ... làm thơ

TRẦN ĐĂNG TUẤN



CÓ MỘT NGÀY

Có một ngày
Rời chậu cảnh, cây ra ngoài đất bãi
Đất cằn hơn và bãi rộng hơn
Có một ngày
Không vui sướng cũng không ngần ngại
Tôi rẽ vào ngả đời
Gập ghềnh hơn mà thanh thản hơn!

Tết này có ai cho rượu ngoại?
Càng thấu tình men lá rượu ngô trong
Xuân này thôi họp hành lễ lạt
Cha dắt con đi chơi non biếc nắng hồng
Giờ như bao chú cô bác khác
Cha loay hoay tìm việc để nuôi con
Chút gian khó CỦA đời cha sẽ nếm
Để gần hơn bao thân phận mất còn!
Hà Nội, 3.11.2010

ĐỒNG DAO
Không có gì thực tốt
Mà lại tốt vừa vừa.
Không có gì vừa vừa
Mà lại là thực tốt…

Không có gì thực tốt…

MỘT NGÀY NHƯ MỌI NGÀY
Một ngày như mọi ngày
Sao lòng dang dở thế!
Một ngày như mọi ngày
Sao lòng thanh thản thế!

Đời nén Có thành Không
Đất nén Sông thành Bể
Rừng nén Hương thành Quế
Nhọc nhằn, tôi nén tôi!

Cỏ xanh hồn nhiên mọc
Nước sông hòa bao la
Trời thu mênh mang gió
Cớ gì ta nén ta?…


VỌNG TRẦN DẦN
Tôi đọc thơ ông
Những hậm hực thường ngày trong tôi len lén khuất
Đến hết đời
Chẳng thể nào tôi có thể
Đau tận cùng như ông đã từng đau.

Bây giờ quê ta vẫn sông Đào tha thiết
Bây giờ quê ta xui hay may không biết nữa
Vẫn nghèo!

Tuổi ngoại năm mươi tôi chạy ra cổng tỉnh
Tìm mua suất chung cư mai bán lấy lời
Tôi sẽ viết những khi không thể khóc
Nhuận bút là mệt nhọc
Ngủ quên thôi. 


THƠ TẶNG BẠN HƯ
Có gì đâu, có gì đâu
Chẳng qua thảng thốt mái đầu bạc sương
Có gì đau, có gì thương
Bây giờ vui hận như sương. Lặng thầm…
Phật quanh ta. Phật tại tâm
Rưng rưng một nén Yêu cầm trên tay
Công hầu khanh tướng nợ vay
Tàn say quờ quạng tìm tay bạn hiền…

Tuesday, November 2, 2010

Tản mạn về văn hóa “quà biếu” ...


  Phú quý sinh lễ nghĩa
                                Lời chào cao hơn mâm cỗ
                                                                                    Của cho không bằng cách đem cho
                                                                                    (Tục ngữ Việt Nam)    

Rời Việt nam đã lâu, tưởng như thời gian có thể xóa nhòa, làm vơi đi những ký ức cũ ở quê nhà, vì dù sao hiện tại đã gắn với quê hương mới, nhưng không ký ức thật là kỳ diệu vẫn hiện về rõ mồn một, đặc biệt sự khác biệt văn hóa giữa hai môi trường sống đã tạo ra những thay đổi dần dần về cách nghĩ và cách hành xử giữa một anh chàng An nam mít và một gã Úc thòi lòi “hai trong một”. Một thứ hồi ức vẩn vơ về một nền văn hóa “quà biếu” tôi vốn thừa hưởng từ Việt nam và một lối hành xử hiện thời ở một xã hội mới nơi minh đang hội nhập, ...
Trong cuộc đời bạn, bạn có nhớ lần đầu tiên biết nhận quà và cho quà?  Nếu tôi không nhầm thì có lẽ năm sáu tuổi gì đó, khi bắt đầu biết nhớ, được nhận những tờ tiền mừng tuổi của người lớn cho, mới cứng "cạo râu" được (năm hào, hai hào tiền VNDCCH trước đổi tiền 1984 - cái thời đồng tiền to nhất có mệnh giá chỉ 10 đồng),  có lẽ những món quà mừng tuổi hồi ấy (thường được trẻ con ngần ngừ tiếc rẻ đem ra bà hàng xén mua bi ve bi đất hoặc mua kẹo kéo, ô mai khế linh tinh) có giá trị không kém những gói quà cồng kềnh đắt tiền và hi-tech thời nay của trẻ em như PS 3 Blue Ray, X-box, Wii,...vv . Những kỷ niệm này làm ta nhớ đến sự ngây thơ, trong sáng của quà biếu (gift),...đó là những món quà đầu tiên mà bạn nhận với niềm vui thích khá mãnh liêt, đây là nét văn hóa quà biếu đẹp đẽ trong sáng nhất trong các gia đình mà tôi từng được biết.

Thời thơ ấu trong trẻo cứ dần trôi, những ngày sơ tán về quê nghèo để bố mẹ yên tâm công tác, mối ân tình nhà quê - tỉnh thành sao mà đẹp thế, quê nội tôi ven sông Hồng vùng đất bãi phù sa bên bồi bên lở, ngày chiến tranh máy bay của Mỹ đánh phá  ở các khu công nghiệp và quân sự thủ đô, chúng tôi sơ tán về quê, ở nhà ông bác, ăn uống kham khổ chủ yếu cơm chan tương, rau muống rau lang, và ngô khoai sắn, đặc biệt ngô non đem rang chảo gang ngọt lừ hay khoai lang lùi bếp tro ăn buổi tối đèn dầu và nghe người lớn kể chyện ma, liệu sơn hào hải vị đặc sản ngày nay có đem lại cảm giác ngon miệng như thế không? tôi ngờ rằng không, tôi vẫn nhớ bác gái tôi, răng đen mắt toét, nhưng thật là chất phác: bác thường có mỗi một câu chuyện kể đi kể lại với một cái chất giọng (accent) rất quê mùa: “Bố mày ngày tản cư về đây ... chà chà ... thuê người gánh mấy gánh ... toàn là sách...mẹ cha nó sao mà nhiều sách thế không biết...” chiều chiều dẫn anh em tôi và các con bác ra sông Hồng tắm mát. Mỗi lần bố mẹ tôi về thăm anh em tôi thường là tháng một lần, tôi thấy quà biếu cho các bác chỉ đơn giản là gói mì chính, chai nuớc mắm loại một, hoặc chai rượu cam rượu quýt của nhà máy Rượu Hà nội là hai bác cảm kích lắm, nhưng khi trở về, các bác nhất định tiễn tay bố mẹ tôi bằng mấy nải chuối to, vài cân khoai, ngô non, để bố mẹ “thồ” về Hà nội ăn cho vui,...(gà qué thì cả quê lẫn tỉnh đều ... hiếm, chỉ gặp những dịp giỗ kỵ mà thôi), cho đến bây giờ, tôi vẫn hình dung ra cảnh các bác tiễn bố mẹ ra đến đầu thôn, xe đạp lỉnh kỉnh sản vật địa phương lúa ngô khoai sắn bí bầu,... những ngày thơ ấu thật đẹp, nằm vắt vẻo nóc xe bò chở rơm rạ, thân cây ngô, đi tắm sông Hồng, trèo cây bắt ve, bắt chuồn chuồn cho cắn rốn,...vv và vv, dẫu khổ nhưng văn hóa quà biếu thời kỳ này đượm màu tình cảm gắn bó với quê hương.

Rồi thì lên cấp ba, khi ta có những ngày mơ mộng, e ấp nghĩ đến một mối quan hệ “lâu dài và thân mật” với một người khác giới,...quà biếu ? Nhút nhát lắm, xấu hổ lắm nên chỉ nói chuyện với đối tác đã tim đập (loạn nhịp) chân run (cầy sấy), thì sức mấy dám nghĩ tới quà biếu,...Không ngờ tôi lại là người “nhận quà” tức là recipient, của người khác giới, có lẽ đối tác biết câu ngạn ngữ “đường đến trái tim của đàn ông là qua ngả ... dạ dầy” chăng? nên tôi hay nhận quà biếu kiểu trái cây đúng mùa như vải thiều, táo thiện phiến (thời trân thức thức sẵn bầy), hoặc khi thì vài quả ô mai,...điều quan trọng hơn, quà biếu như một tín hiệu báo hiệu, một sự thăm dò mơ hồ tế nhị: ... Ngược lại mình nhận quà thì cũng nghĩ đến cho quà, để đánh tín hiệu ... morse ... I like you ! hi hi, thường thì người gửi và người nhận lại không phải là một ... :-) (tức là nhận quà của đối tượng A, nhưng lại nghĩ cách...trao quà đối tượng B)...và trong đời cũng đã trải nghiệm thế nào là ... bị lừa, (bắc thang lên hỏi ông Trời,... tiền đưa cho gái có đòi được không ?), văn hóa quà biếu thời kỳ này tuy có vương vấn chút “tư tình”, nhưng vẫn trong sáng và nên thơ lắm phải không các bạn.

Rồi thời vào Đại học, phải nói đặc điểm của dân  trí thức Nga (tầng lớp giáo viên) rất nghiêm túc, không thể nghĩ đến chuyện chạy điểm hay quà cáp gì được, bọn tôi chỉ bắt đầu biết biếu quà những bà già gác cổng khó tính bằng dầu cù là hộp sắt để các bà ấy làm  ngơ cho bạn đi qua cổng ký túc xá vào thăm nhau. Rồi dần già các chú VC biết biếu quà (rượu Vodka cho nhân viên gửi hàng biển – gọi là “rót” vodka vào thùng hàng để nó giảm cước phi cho).  hay biếu các cô Mậu dịch viên Nga son phấn Thái để nó bán cho ao bay, bàn là, xe đạp, máy khâu, vòng bi ...vv đủ các loại biến tướng của "văn hóa" quà biếu. Một loại hình “quà biếu” nữa là chi tiền mặt cho gác toa tầu hỏa, giá mềm bằng giá vé, mỗi lần ra ga đi Moscow, chẳng bao giờ phải đến trung tâm bán vé mua vé trước, vì tụi Nga hồi ấy cấm sinh viên nước ngoài di chuyển, nên không bán vé nếu không có hộ chiếu Nga, muốn đi phải làm đơn gửi trường chờ duyệt rất phức tạp. hoặc nhờ người Nga mua vé hộ, khi có vé thì có thể may mắn được lên tầu(50/50) vì gác toa thường không kiểm tra hộ chiếu, cho nên cách đi “chui” mười phần tiện lợi, không mua vé, khỏi xếp hàng, ra là đi, chỗ thì lúc nào mà chẳng có, toa tầu dài thế, hai chục toa, cứ cho là cả dây chuyền rất “trong sáng” thì cũng phải có một hai “mắt xích” yếu kém để mà ta tấn công chứ, nên cứ thấy các chàng sinh viên nước ngoài đi dọc theo chiếc tầu tốc hành “Mũi tên đỏ” là các cô gác toa “quét mắt” rất nhanh... bốn mắt gặp nhau thế là ... lên tầu, không quên vê tờ 20 rúp thành hình điếu thuốc dê và dúi nhanh vào tay nàng. Hành khách người Nga  lại thật thà chả bao giờ dòm ngó để ý ai vào mới ai, lên tầu gác toa (provodchick) sẽ chỉ chỗ cho bạn nằm, nếu toa đã kín hết thì họ sẽ cho bạn nằm trong service coupee, thường có hai giường và bạn hoàn toàn yên tâm, khi đã yên vị trên tầu là yên tâm lôi Vodka ra uống với tây, nhấm nháp cá vobla, ra đầu toa hút thuốc tán dóc, ...có lần gặp may còn (nói chuyện) “mây mưa” với gác toa trẻ kiểu ....”Vacdan dlia dvoik” (Nhà ga dành cho hai người) .... thế mới biết mầm mống của chủ nghĩa cá nhân, hối lộ và trục lợi đã nảy sinh từ cái nôi của Cách Mạng Tháng Muời. Đặc biệt soát vé đường dài chỉ thấy ... bắt toàn thành phần trốn vé của Nga mà thôi, chứ gặp sinh viên ngoại quốc, chào kính cẩn lại còn nói “sì pa sí bơ”,....(chắc đã được ... bao sân bởi các gác toa và  “kế hoạch ba” của họ chăng ?), đến đây thì văn hóa quà biếu đã mang mầu sắc hối lộ và đút lót rồi ....hu hu.

Thời gian thấm thoắt trôi,...tốt nghiệp ra trường chờ phân công công tác, lúc ấy cả hai vợ chồng trẻ đều “nhiệt tình hăng hái phục vụ cách mạng”....he he nhưng rất sợ cách mạng phân công ... đi tỉnh xa, nên bồn chồn lo lắng, về phía bà xã tôi, người phụ trách phân công công tác lại là cô Th,...sau khi nghe tả cô Th, nhà ở khu TT VPPHH và cô có ba người con trai... té ngửa ra thằng con út cô chính là bạn học cùng tôi hồi lớp 10, hôm hai vợ chồng lễ mễ xách lễ vật (rất nhỏ mọn) gồm mấy cân mứt sen, mấy cân chè móc câu, (không có rượu tây như sau này đâu) và mấy bánh xà phòng Lux. bao bì đơn giản lắm, cô Th, nhận rất đơn giản, thực ra cô có làm khó dễ gì đâu, chẳng qua hai vợ chồng áy náy, và người lớn mách bảo, phải vậy, phải vậy, .. nên cứ y chang làm theo thôi. Không ngờ: ngượng nhất là đụng mặt thằng bạn, nó quá hiền, và quá tốt, lúc nó tiễn tôi về, tôi còn nhớ dúi vào tay nó bao thuốc lá 3 số nó chối đây đẩy, quay ngoắt chạy biến làm tôi đứng như trời ... trồng. Chao ôi, quà biếu và những thời khắc khó xử trong đời là như thế đó. Về phần tôi, sau khi tốt nghiệp, ông già viết một thư tay, gửi đồng nghiệp (lúc đó giám đốc công ty) viết rất ngắn gọn, tôi còn nhớ đại ý, 

“Anh T. kính mến,

Cháu T con trai tôi mới tốt nghiệp đại học, nay cháu có nguyện vọng xin được làm việc tai,... kính mong anh giúp đỡ.

Thân kính
ký tên

Tôi mang đến gặp bác ấy, bác ấy là người quân tử, hoàn toàn không thân với bố tôi nhưng là đồng nghiệp rất tốt, (đã mất vì bệnh tim, nghe nói gục ngay trên bục khi đang đọc diễn văn). Phần bố tôi thì cũng kiểu chả muốn hạ mình đến xin xỏ, mà chỉ thư tay nhờ thôi, với tâm lý được thì tốt không được cũng chẳng cần, tìm chỗ khác, không ngờ  bác cười phán một câu tôi nhớ đến bây giờ:
“À cháu là con Bố H.  phải không? lớn quá nhỉ,... về đi trường hợp của cháu bác sẽ giải quyết, chắc chắn là được, thế nhé”
Tôi lí nhí cảm ơn và chào bác ra về và ... được nhận công tác ... nghe đâu hồi ấy cái giá để xin một xuất ở đó là một tủ lạnh Saratốp 120 lít tương đương hai chỉ vàng – có người nói lại với tôi như vậy. Nhưng đấy chỉ mới là cửa đầu, còn các cửa sau như phòng Tổ chức Cán bộ, phòng t.k. nơi tôi trực tiếp làm việc, may quá, bố tôi đã về hưu, nhưng các cô trưởng phòng vẫn còn nhớ bố và vui vẻ nhận ngay. Thế là dịp Tết ngay sau đó, các cụ đã nhắc hai vợ chồng đến ngay nhà hai cô D và cô Ch. (trưởng các phòng ban liên hệ) để cảm ơn, bọn tôi vâng lời và đi lễ tết các ân nhân, thực lòng tôi rất quý các cô, rất muốn tỏ lòng biết ơn các cô nhưng đem quà đến biếu Tết thì ... sau mà ngượng thế, bà xã cũng kém xã giao cũng chả biết nói gì, ...ngượng chín cả mặt,.... chưa kể sự cố, hôm đến nhà cô trưởng phòng t.c., hỏi thăm vòng vèo tìm đúng nhà, gõ cửa cộc cộc một nhân vật lạ hoắc ra mở cửa, nhân vật này lại là nhân viên của một phòng khác của cơ quan, anh ta hiểu ngay cái sự ... shock của tôi và nói ngay, “Em đến chơi nhà chị D phải không? chị D đã chuyển đến địa chỉ...ABC, em cứ đến hỏi sẽ gặp...” dĩ nhiên anh ta không quên “quét nhanh” ,mắt qua cái làn quà biếu tôi khệ nệ xách trên tay, lỉnh kỉnh mứt sen, trà, rượu và bánh bicquy Tầu hộp sắt lòe loẹt, lại một phen ... muốn chui xuống lỗ nẻ.

Đến nhà cô D, cô đã được phân một căn hộ mới ở tầng 1, có cơi nới khu sân vườn bao quanh nhà, tôi bấm chuông và con gái cô mở cửa mời vào nhà, xe máy (ba bét nhè) để ngoài cửa, trong sân, có tường vây bao bọc cao 1.5 m, chấn song sắt, sau khi hỏi thăm xã giao và gửi quà biếu, nói tránh: “Bố  mẹ cháu có ít quà gửi biếu cô chú nhân dịp Tết”... “ Gớm sao bố mẹ vẽ chuyện thế, quà bánh làm gì, lần sau, không phải đến nữa đâu nhé, lần này thì cô xin, cô cảm ơn”... Cô tiễn hai vợ chồng tôi ra cửa, khi ra mở khóa xe, thì một làn quà khác để trên giỏ xe (đáng lý chỉ để chở đầy Hoa Phượng mà thôi...) để đi tiếp chặng đường quà biếu, thì ôi thôi, đã không cánh mà bay, hai vợ chồng đưa mắt nhìn nhau ngơ ngác tôi hỏi khẽ vợ, vừa nẫy em có xách cái làn thứ hai vào nhà không, bà xã bảo không, thôi thế là mất rồi, hóa ra khi chúng tôi bấm chuông, chờ mở cửa, hành vi đem quà biếu đi "phân phối" đã không lọt qua con mắt “cảnh giác cao độ” của “quần chúng nhân dân” ... ngồi hàng nước gần đó, thế là khi vào trong nhà hàn huyên (không lẽ xách theo cả hai làn ... sợ bị hiểu nhầm), “quần chúng nhân dân lao động” đã nhẩy phốc qua hàng rào và lặng lẽ rút đi cùng chiến lợi phẩm ... một làn quà tết. Cô D rất tinh đã hiểu ra sự việc ... cố gặng hỏi “mất gì mất gì ?” chúng tôi ú ớ ... "dạ không ạ không ạ", rồi chào cô và  rút lui. Lại một lần muốn chui xuống lỗ nẻ vì ngượng. Ô hay, biếu xén, lễ nghĩa, sao mà ngượng, sao mà khổ, không biết  ai thế nào chứ tôi thì quả là không có khả năng thiên phú về cái khoản “lễ nghĩa” này,...văn hóa quà biếu yếu tố tình cảm thì ít mà nghĩa vụ thì nhiều, đôi khi rất bẽ bàng vì thiếu chân thật.

Nhớ lại hồi trước đó có đọc truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Bước đường cùng mới thấy là duới thời thực dân đế quốc, nạn quà biếu nhũng nhiễu đã có rồi, “vào cửa quan không có lối nói bằng nước dãi”, ông quan huyện tuổi Tý, bà vợ muốn thành tuổi Sửu để hương lý nó đúc tượng vàng tặng cho chồng, rồi có cả chuyện ông quan muốn thăng chức đưa cả vợ (mợ nó) đi ... “vi thiềng” quan Tây, hay chuyện các học trò gom nhau lại đi “tết” thầy, thầy không ưng vì đi đông, quà góp chung sẽ không “xôm” bằng học sinh đi lẻ,... văn hóa quà biếu của dân An nam đã có "cội sâu bền rễ" từ thời phong kiến thực dân.

Rồi thì thời gian cứ dần qua, bà xã vì có chuyên môn nên được cấp trên đưa về làm hiệu phó một trường mẫu giáo ở ngay Bờ Hồ,...thế là quận đã xuống gợi ý một số chỉ tiêu “thân quen”, thậm chí còn đặt vấn đề thẳng: kỳ này nhà trẻ trích tiền viện trợ UNICEF để trang bị cho Quận ủy một máy Radio cassette mới,?... thời ấy cách đây gần 30 chục năm, chứ bây giờ thì cả Quận Ủy và Nhà trẻ quận HK đều là những “ngọn cờ đầu” về kinh tài rồi, cái radio cassette thì nghĩa lý chi? ... Hay giám đốc Sở đi gợi ý các phòng ban “uống nước nhớ nguồn” để nhắc nhở trách nhiệm với cấp trên:  văn hóa quà biếu đến đây có mùi chia chác bổng lộc. Vợ chồng tôi khó chịu vì những buổi tối phụ huynh mẫu giáo đến nhà biếu vợ tôi gói đường hộp sữa và ngồi "cháo ám" cả tiếng đồng hồ, đúng là ... kính chẳng bõ phiền. Mất toi cả buổi tối hiếm hoi của cả hai vợ chồng trẻ.

Một lần khác để làm hộ chiếu đi nước ngoài, chả biết chạy cửa nào có thằng em họ con bà cô vợ, làm CA, giới thiệu một vị cục phó cục XNC, thế là liên miên đưa vị này đi ăn uống, mà vị này rất “kiệm lời” đi ăn uống rất nhiệt tình, lững thững ngay từ văn phòng cơ quan, gần hồ Thiền quang ra ngồi quán đặc sản, bia Heineken mở bôm bốp, cắm cúi gắp, ăn, nhậu, chả nói chả rằng, bọn tôi và thằng em và sếp của nó nói chuyện dè dặt với nhau, thằng em hồi ấy cấp úy, sếp của nó cũng cấp úy mới là phó phòng, còn xa mới đến tầm vị Cục phó này, nên chúng nó giúp tôi nhưng cũng là gián tiếp tự giúp chúng nó để "vua biết mặt chúa biết tên", lại được ăn nhậu miễn phí. Về phần tôi muốn qua sông thì phải ... lụy đò, nên đóng vai điếu đóm cần mẫn. Một hôm ông anh ra sở XNC HN (cấp thấp hơn) ở Tô Hiến Thành gặp một chú CA trẻ (nhưng rất từng trải) chú ấy phán một câu xanh rờn: Anh cứ về nói với người đứng đơn lo cho em 4 "vé" là có một hộ chiếu. Giá cả hồi ấy thế là cũng lớn lắm 4 vé (400 thời ấy) quý hơn 4 ngàn bây giờ. Sau khi deposit 100 làm tin, đúng 1 tháng sau, anh ta đi xe cúp mang HC đến tận nhà và bọn tôi chung chi phần còn lại. Sau khi xong xuôi anh ấy thòng một câu: “ Nhà anh có nhờ vả cụ S. xuýt nữa thì anh em giẫm chân lên nhau... may mà em với cụ S (cục phó) cũng là chỗ "người nhà" nên không sao”  ... hóa ra cái khoản “ngu phí” cho cụ S, cứ đánh chén tỳ tỳ ... thì chả được tác dụng gì. Tôi luận ra là “cụ” muốn kéo dài thời gian chờ đợi để ... nhậu miễn phí. Ngược lại cụ cũng ngại “ra giá” như chú em T. kia. Văn hóa quà biếu ở đây có mùi chạy chọt cửa công quyền. Cái khoản này một nhân tài tôi biết rất rõ, nay đã nằm trong dánh sách những người giầu nhất nước, tuy nhỏ tuổi hơn tôi nhưng khoản chạy chọt cửa quan này thì ... là đại sư phụ. Từ tay trắng đi lên thành đại phú nhờ ... “ưu thời mẫn thế” và đi lọt các cửa khó nhất.

Đấy chỉ là những mẩu chuyện về “quà biếu” hết sức giản dị, tầm thường chẳng có gì phức tạp mà sao tôi vẫn không quên, kể cả cái lần lên được bà bí thư ĐSQ Úc phỏng vấn, hôm ấy lên văn phòng bà ở phố bà Triệu, cùng ngày cũng thấy kịch sỹ Chí Trung đến chờ  phỏng vấn, tôi có đem theo một bó hoa tươi,  và một tranh sơn mài nhỏ, bà ... sững người và nhất định không nhận tranh sơn mài, chỉ nhận bó hoa, vẻ mặt  rất “khó chịu” khi bị/được quà biếu,...thế nhưng khi phỏng vấn bà ta vẫn tỏ thái độ lịch sự và vô tư và sau đó tôi có visa vẫn đỏ mặt vì món quà ... ế với bà.

Đến thời kinh tế mở cửa (tụi truyền thông phương tây hay gọi là thời kỳ doi moi – “đồi mồi”) tôi cũng bung ra làm ăn với bạn bè, và văn hóa quà biếu đã lên đến trình độ khá cao thủ, đối tác gặp nhau sơ bộ, mời nhậu, thông qua dự toán, phong bì và nhậu, ký kết hợp đồng nhậu và phong bì, tạm ứng thi công: nhậu kèm phong bì, cắt thêm séc: phong bì rồi thì ... nhậu, nghiệm thu công trình: phong bì các cửa và nhậu các cửa, thanh lý hợp đồng: phong bì và nhậu, một chu kỳ lặp đi lặp lại hết nhậu lại phong bì, hết phong bì lại nhậu tiếp, nhưng chưa đến mức sỗ sàng như đặt thành giá cho những phi vụ mua bán ghế sau này. Lần đầu tiên uống Cognag Hennesy nút bấc là như thế,... thời kỳ bia 333, Vạn lực và Johnny Red Label đã là sang trọng. Văn hóa quà biếu thời kỳ này là "lại quả" (kick back) tức là những chiêu thức đầu tiên của hối lộ chia chác công quỹ một cách tinh vi.

Tôi vốn tính nóng nẩy nên nhiều khi làm hỏng việc của mấy anh em, vì khi đi đàm phán công trình, gặp cảnh hoạnh họe của bên A, nhiều khi nóng mặt bỏ về,...làm anh em khác phải đi chữa cháy. Hồi ấy cơ chế còn bó buộc chuyện lãi doanh nghiệp, nên chủ yếu lãi được nhờ khai tăng giá vật tư và dôi nhân công, còn doanh thu và thực chi trên sổ sách phải bằng nhau chứ không được phép thu lời, vì trong dự toán không có mục tiền lời doanh nghiệp, trách nhiệm phí, chi phí điều hành công ty, bên A tức chủ công trình chỉ thanh toán chi phí theo dự toán mẫu của Nhà nước (rất sơ khai)... làm thế thực tế là làm đúng luật nhưng lại sai luật vì tình ngay ý gian, nếu bị thanh tra và bắt khớp hóa đơn chứng từ thì chỉ có nước ... đi tù. Vì thế tôi sợ đi tù và quyết định chấm dứt con đường làm công trình, thứ nhất có vài cái lợi: một là vợ con còn thấy tôi về nhà ăn cơm tối, chứ lúc trước, dúi vào tay vợ một cục tiền bảo đi mua “đỏ” (gold) cất, và chi tiêu xả láng, nhưng tối về thì chân đi quận thừng, lưỡi đã líu vì quá chén, đôi khi cho chó ăn chè, vợ phải dọn và bôi vôi và không ngừng ca thán, bảo anh cứ đi mút chỉ thế này thì hỏng là cái chắc...,...sau đó tôi quyết định giải nghệ, bỏ làm công trình, một thời gian ngắn sau là lên đường đi Úc.

Trở lại câu chuyện đặt chân lên đất Úc,... tôi đi học lái xe, chú dậy lái xe lại “cố vấn” này em, ở đồn Cảnh Sát Giao thông này có thằng “ăn” đấy, muốn “chống trượt” thì chi cho nó 100 đô ... , tôi nhất quyết phản đối, bảo không, trượt thi lại, nhất định không chơi trò khuất tất ấy, quả nhiên tôi thi đỗ dễ dàng, inspector chấm điểm công minh chẳng hành hẹ gì. Văn hóa quà biếu ở đây không có đất sống mặc dù mầm mống thì ... vẫn có.

Đi làm ở Úc, boss lớn, boss nhỏ kệ các boss, uống bia cùng nhau là “mày tao” hết và đã quên cái cảnh ... ôm cành đào đi giật lùi vào nhà sếp, hay lễ mễ mang gói quà rượu đi biếu "ma ra tông" các cửa quan hồi ở VN. Cũng chẳng cần nhớ ngày sinh nhật vợ con ông bà cha mẹ sếp mà đưa phong bì gọi là mừng cho hai cháu, hoặc mừng sinh nhật sếp gái...vv và vv. Ngày lễ tết người nhận quà là nhân viên chứ không phải sếp, liên hoan chia tay, sếp đến bắt tay từng người và phát quà, thường là hai chai vang đỏ hoặc giỏ quà, christmas hamper, đôi khi bốc thăm, có giải thưởng nhẹ nhàng cho nhân viên. Mọi người ăn uống, vui vẻ và chia tay nhau đi nghỉ mát. Đi ăn với sếp thường thì sếp bao nhân viên chứ không có ngược lại,...gặp đối tác nước ngoài, nhiều lắm là chiêu đãi nhau 1 lần và chỉ một, nên nhiều ông VN sang đây công tác khó chịu ra mặt vì Tây không biết o bế đối tác. Văn hóa quà biếu ở đây là vô tư: tức là thích thì cho nhau quà, chỉ mang tính chất quan tâm, còn những món quà có giá trị bị nhìn với con mắt ngờ vực: ... hay nó định lợi dụng gì mình đây?. Kể cả nhân viên môi giới địa ốc, không dễ dầu gì bạn cho họ tiền mặt mà họ chịu nhận, để làm giá mềm có lợi cho bạn.

Về VN chơi, qua sân bay những năm trước bị hoặc hành lên bờ xuống ruộng hoặc gặp những đôi mắt "mang hình viên đạn" của nhân viên cửa khẩu khi phật qua phật lại quyển hộ chiếu tư bản mà không thấy có cái gì ... bay vào ngăn kéo. Nhiều lần chặc lưỡi gài đại 20 hoặc 50 đô, thấy qua lẹ ru, miễn luôn cả soi hành lý, mấy năm gần đây thấy tình hình có cải tiến dễ chịu hơn, ...văn hóa quà biếu của một thời ngăn sông cấm chợ và bắt chẹt hành khách, một thứ “văn hóa” ... thô bỉ.

Nói chung câu chuyện quà biếu chỉ có vậy, thương nhau thì thương ở tấm lòng, quà biếu thì quý thật nhưng cũng phiền lụy thật. Cái phong cách quà biếu Á Âu thì có vẻ như câu nói của  Rudyard Kipling vẫn đúng với nó: “Đông là Đông và Tây là Tây, hai vế ấy không bao giờ gặp nhau được...”

Mùa đua ngựa Melbourne Cup 2010

Tim Nguyễn

Monday, November 1, 2010

“Bộ tam”

Khuất Đẩu

Khi vua Bảo Đại tuyên bố” thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua  một nước nô lệ” và trao ấn kiếm cho hai vị đại diện cách mạng, trong đó có một nhà thơ với những câu thơ buồn hơn cả những cơn mưa sụt sùi của xứ Huế, ngài cũng đã làm cho các ông hoàng bà chúa sụt sùi không kém. Bọn họ khóc kể, vật mình vật mẩy trong những lâu đài còn rực rỡ ánh vàng son vì số phận đã không còn nuông chìu họ nữa. Họ sẽ bị ném ra khỏi kinh thành, bất ngờ và tàn nhẫn như bị lôi ra khỏi những giấc mơ rất đẹp.
Cũng buồn không kém, cũng thất vọng, lo sợ, nhưng chỉ dám khóc thầm, đó là những hoạn quan. Như những con gián, sợ mọi người nhìn mặt như sợ nhìn thấy ánh sáng ngày, ngay buổi tối hôm ấy họ đã lặng lẽ trèo thành trốn về quê cũ.
Bác cả tôi là một trong số những hoạn quan cuối cùng của triều Nguyễn.
Ngày bác về, cả làng rùng rùng kéo nhau đi xem khiến cho con đường vào nhà chật cứng người. Họ đồn thổi, thêm thắt, vẽ chuyện, cứ như bác là một nhân vật xa lạ nào đó từ đâu tới, chứ không phải do bà tôi đã từng mang nặng đẻ đau. Rằng bác không dái không chim, giữa háng trơn tuột chỉ có mỗi cái vảy nhỏ như lưỡi mèo để thải nước tiểu mà thôi. Bác không đực, không cái, vô duyên và lãng xẹt như thế, không biết sinh ra để làm gì. Nhưng cũng từ miệng họ, trời đã sinh ra là ắt có chỗ dùng, nên bác không cần hoạn mà vẫn được vào cung để ngày đêm hầu hạ thiên tử và các quý nhân, một nơi mà ngoài đức vua và các hoàng tử ra, không một ai được phép có “cái đó”.
Chính từ nơi cung khuyết ấy trở về với bao nhiêu bí mật, bao nhiêu diệu vợi  bên cạnh các bậc mẫu nghi, các bà chúa, các công nương đã khiến bác trở thành một người quan trọng còn hơn cả một người vừa đắc cử  quốc hội. Người ta muốn biết vua ăn ra sao, ngủ như thế nào và tò mò nhất là chuyện “ấy”. Bọn đàn ông trong làng kháo nhau, đêm đêm bác được vua sai bồng các cung nữ đã tắm rửa thơm phức lên cho ngài “ngự”, xong việc lại bồng về. Được kề cận lá ngọc cành vàng, được hít thở mùi hương vương giả những ngần ấy năm, ai mà không mơ ước.
Nhà tôi không ngớt người tới thăm. Ai cũng muốn được gặp bác. Nhưng bác thì trốn biệt trong phòng của bà. Đó là một gian buồng kín bưng, lúc nào cũng phảng phất một mùi là lạ, như mùi của bóng tối. Bà tôi mất đã mười năm, mang theo nỗi buồn nhớ khôn nguôi đứa con bé bỏng. Bà thường nói các bà mụ nặn cái đầu bác to quá nên thiếu mất cái chỗ đó để làm đàn ông. Cho đến khi bà mất, hình ảnh của bác còn đọng lại trong bà, cũng chỉ là một đứa bé mới lên mười. Đó là năm mà bà khóc tiễn bác đi ra kinh đô xa vời vợi. Nỗi buồn xa con chỉ được an ủi đôi chút khi làng theo lệnh vua, cấp cho bà nửa mẫu công điền.
Đứa bé mười tuổi ấy một lần đi là không bao giờ được trở lại. Mãi cho tới lúc chết. Vậy mà giờ đây, sau bốn mươi năm, nhờ cách mạng, bác lại được trở về với cái hào quang tơi tả của một ông quan hoạn, được vào ra chốn cung đình nghiêm mật nhưng không phải nhờ văn hay chữ tốt, không ông cống ông nghè, mà chỉ nhờ dưới háng không có “cái ấy”.
Cái sự ồn ào của xóm làng rộ lên ít lâu rồi cũng lắng xuống. Biết bao nhiêu công việc mới của cách mạng đang chờ. Nào học tập đời sống mới, nào phá đình, đào đường, rồi phá thành Bình Định. Bác tôi như một con mèo ốm, lúc nào cũng run rẩy vì lạnh và vì sợ. Khi sắp xếp những người trong làng thành đoàn thể, người ta không biết phải xếp bác vào nông dân hay phụ nữ. Vào nông dân thì các ông không chịu. Nó đâu có cái ấy. Mà vào phụ nữ, các bà lại trề môi: cái thứ bị trời hoạn ấy ai mà thèm. Thành ra bác khơi khơi ở giữa, khỏi phải họp hành tới lui, khỏi nghĩa vụ nghĩa viếc.
Không biết cách mạng quên hay vì làng hãy còn thương bác mà nửa mẫu công điền không bị lấy lại. Tuy không còn bổng lộc, nhưng nhờ vậy bác vẫn  sống được. Có điều bác không biết cầm cày cầm cuốc, không biết cây lúa mọc lên ra sao, nên cha tôi khuyên bác cho người ta làm rẽ, rồi  cất riêng cho bác một ngôi nhà nhỏ ở góc vườn. Bác sống ở đó, cũng biệt lập và kín đáo như ở trong cung cấm.
Đồ tế nhuyễn của bác đựng trong một chiếc hộp nhỏ sơn đen cẩn xà cừ óng ánh. Trong hộp chỉ có một chiếc trâm đã gãy, một vòng ngọc thạch bị vỡ, một ít viên phấn nụ màu trắng lâu ngày đã xỉn và sứt mẻ. Bác thường bày ra trên một chiếc khăn nhiễu đỏ, nâng niu mấy món đồ vô dụng ấy với tất cả lòng sùng kính. Có cảm giác như bác đang đứng hầu ai đó một cách khiêm cung. Một đôi khi bác nói thành tiếng, thưa đức ngài, con trót dại. Có thể nghĩ rằng đó là những vật trong cung mà bác vô ý làm hư hại nên bị quở mắng. Cái kỷ niệm xót xa đó gắn liền với chút vàng son một thuở khiến bác quên đi cái thực tại nghèo đói tồi tàn. Bác lơ mơ, ngầy ngật giữa mùi hương lạnh lẽo và xa vắng như đang mộng du. Cầm đôi đũa tre tưởng như đũa ngà, bưng chén đất tưởng như chén ngọc, nghe gió thổi qua lùm tre kẽo kẹt tưởng như đàn sáo dìu dặt, thấy ống quần ai vén lên tận háng khi rửa chân tưởng lệnh bà đang đi tắm…
Trong khi bên ngoài, cả làng cả nước đang rùng rùng như sóng trào gió giật vì cuộc kháng chiến thì bác vẫn lặng lẽ trung thành với những hình bóng cũ. Bác quên hẳn chúng tôi và rồi chúng tôi cũng quên dần bác. Chỉ đến khi giỗ chạp, cha tôi ra mời bác mới vào. Nhưng bác chỉ đứng xa mà nhìn chứ  không vào thắp hương. Cha tôi nói, bác tự cho mình có tội bất hiếu nên không dám đứng trước bàn thờ.
Năm ấy bác chỉ hơn năm mươi, nhưng vì không có râu và để tóc dài nên trông bác như một bà lão. Trong những buổi chiều tắt nắng, bác ngồi trước thềm nhà như một con chó ốm nhớ chủ, nước mắt lặng lẽ rơi từng giọt không buồn lau. Lẽ ra bọn trẻ chúng tôi, có được một người với rất nhiều bí mật như thế là cả một kho tàng để đào bới những chuyện kỳ thú, nhưng với vẻ u buồn lạnh nhạt của bác, chúng tôi ít đứa nào dám tới gần. Cái trò tinh nghịch nhất mà chúng tôi có thể làm một đôi lần, ấy là nằm rạp trong vườn chuối để rình xem bác đái ngồi. Bị kiến cắn và bị cha lấy roi phết lên mông nên cũng chẳng biết gì hơn ngoài cái ống chân xanh rớt và teo nhách không một sợi lông của bác.
Ấy thế mà cũng có một lần bác phải ra trước nhân dân.Trong chiến dịch bài phong kiến, không biết vì đùa nghịch hay vì ác ý, mà chủ tịch ủy ban thôn đã lôi bác ra trong một cuộc mít tinh, để hỏi về cách sống xa hoa của bọn vua chúa và cách bóc lột của chúng.
Mày làm gì trong cung?
Thưa hầu hạ.
Hầu hạ ai?
Thưa hầu vua và hoàng hậu.
Phải gọi đích danh là thằng Bảo Đại và con Nam Phương, biết chưa?
Dạ thưa biết.
Nó ăn, mày làm gì?
Thưa đứng hầu.
Nó ngủ, mày làm gì?
Thưa sửa soạn chăn màn.
Nó đái, mày làm gì?
Dạ…
Có cầm c… cho nó đái không?
Tới đây thì cả làng nổ ra một trận cười ầm ĩ mà chỉ có tiếng hô đả đảo phong kiến mới dập tắt được. Bác đứng đó, ngơ ngác, run rẩy. Chắc bác tự hỏi đây là nơi đâu? Địa ngục chăng?
Bác mềm oặt ngã xuống. Lại một trận cười nữa.
Cha tôi bồng bác về, đương nhiên là không giống như lúc bác bồng các cung tần, mà giống như đang ôm một thằng bù nhìn làm bằng rơm.
Bác nằm như chết ba ngày đêm. Rồi bác dậy, bước vào cái từ đường là nơi lẽ ra bác được thừa tự nếu sinh được con trai. Thầm thì một lúc, bác lại về nhà mình đóng kín cửa, còn cha tôi thì xách cuốc đi đâu đó.
Một lúc sau, cha tôi về với một cục đất sét. Ông đập nhỏ, lấy một ít nước ngào trộn như lúc đắp ông táo. Khi đã thật nhuyễn, ông ngồi nặn một cái “bộ tam” có đủ cả chim dái rồi đem phơi khô. Khi đã khô cứng ông lấy rơm đốt cho đến lúc thành sành. Dường như sau đó ông có thêm vào một ít tóc rụng mà mỗi khi chải đầu mẹ tôi thường cuộn lại như một cái kén dắt lên mái tranh.
Ông đem đến cho bác, đâu có ngờ là bác chuẩn bị để chết.
Thực ra bác chưa tới số. Nhưng có lẽ vì xấu hổ, vì lạc lõng nên bác đã treo cổ tự tử.
Nhà bác luôn cài kín cửa, nên khi nghe có mùi hôi, tông cửa vào mới biết là bác đã chết từ lâu. Tấm thân mỏng mảnh của bác không đủ sức căng phồng lên, nhưng vẫn có những giọt nước chảy xuống đọng vũng trên nền đất bu đầy kiến. Nhiều con tinh quái còn theo sợi dây cột từ xà nhà, chui vào mắt vào mũi bác.
Cha tôi khóc, cắt dây đưa bác xuống. Lúc này bác mới thật giống là con bù nhìn. Cái lưỡi bé xíu của bác không biết cách thụt vào nên khuôn mặt bác trông vừa buồn cười vừa đáng sợ. Những con kiến trên người bác hốt hoảng bò ra. Chúng nhốn nháo tới lui trên làn da vàng ệch, bối rối chạm râu vào nhau như để hỏi thăm đường về.
Một đời lạnh lẽo của bác kết thúc như thế đó. Ngoài một vài giọt nước mắt em khóc cho anh, cũng chẳng còn ai khóc bác.
Cha tôi bảo mẹ lấy lá bưởi và lá é nấu nước để ông lau rửa cho bác. Mùi thơm của lá làm bớt đi phần nào mùi khăm khẳm của thịt da mục rữa.
Cha tôi tự mình khâm liệm cho bác. Khi bác đã được lột truồng, cha tôi lấy cái bộ tam cất trong hộp đặt vào giữa háng rồi mới mặc áo liệm màu trắng. Cái vật khô cứng ấy không ăn nhập gì với thịt da bỗng nảy cao lên dưới làn vải như có ai thò tay động đậy. Một vài người đàn ông đến phụ giúp quay mặt vào vách để giấu nụ cười.
Bác được đem chôn ở chân núi Mò O, vẫn đắp mộ hình cái chàn như bao nhiêu người đàn ông khác. Cha tôi thở dài nói với mấy người đào huyệt: thôi thế cũng xong một kiếp người. Mai sau có đầu thai ảnh cũng không còn làm quan hoạn nữa.
Lúc trở về, mẹ tôi trách cha, sao không chôn cái hộp theo bác. Cha bảo, đem theo làm gì nữa. Chẳng lẽ còn muốn ảnh làm con ma bị thiến hoài sao.
Bác được thờ trên một cái bàn nhỏ cạnh bàn thờ tổ tiên. Không có di ảnh, chỉ có chiếc hộp hình chữ nhật của bác đặt sau lư hương giống như một cái áo quan còn phủ vải đỏ chưa hạ huyệt.
Mười năm sau, nhà bị đốt, cái hộp ấy cũng thành tro.
20/10/2010
© 2010 Khuất Đẩu