Wednesday, January 22, 2014
Thursday, January 16, 2014
Này thì "dọn vườn"
Những từ dùng sai trong ngôn ngữ tiếng Việt
Đăng bởi Hà Thủy Nguyên vào November 12, 2013 in ARTICLE, Lịch sử - Văn hóa
*Book Hunter: Trong ngôn ngữ giao tiếp và hành chính của người Việt chúng ta hiện nay, nhiều từ đã bị sử dụng không chính xác, bị biến nghĩa hoặc ghép từ một cách kệch cỡm. Điều này thể hiện tư duy tạm bợ và tinh thần thiếu trách nhiệm trong sử dụng ngôn từ. Việc đưa ra những khái niệm không chính xác này tạo thành một thói quen chấp nhận sự mù mờ trong định nghĩa từ, dễ gây hiểu lầm và tranh cãi, khiến cho văn bản kém tính chính xác. Đây là một bài chúng tôi sưu tầm, liệt kê các trường hợp sử dụng từ sai trong tiếng Việt hiện nay.
1.- Sai vì không hiểu nghĩa gốc Hán Việt.
CHUNG CƯ. Từ kép nầy được thành lập theo văn phạm Hán Việt ví tính từ đứng trước danh từ cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt. Thế mà từ chung Hán việt không có nghĩa là chung chạ mà có nghĩa là cuối cùng. Vậy chung cư 終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy phải đổi từ chung cư thành chúng cư 衆居 thì mới ổn.
KHẢ NĂNG. "Khả năng" 可 能 là năng lực của con người, có thể làm được việc gì đó. Thế mà người ta đã viết và nói những câu đại loại thế nầy: Hôm nay, khả năng trời không mưa. Khả năng con bò nầy sẽ chết vì bị bệnh… Nghe thực là kỳ cục và đáng xấu hổ. Tôi cho rằng, người ta đã nhầm lẫn giữa hai từ khả năng 可 能 (capacité, capable) với khả dĩ 可 以 (possibilité, possible). Nhưng thôi, chúng ta nên dùng từ thuần Việt là có thể, đúng và dễ hiểu, còn từ khả năng chỉ nên dùng để nói về năng lực mà con người mà thôi.
QUÁ TRÌNH. Quá 過 là đã qua, trình 程 là đoạn đường. Quá trình là đọan đường đã đi qua. Nói thế nầy là đúng: "Quá trình thực hiện công việc đã gặp nhiều trở ngại. Nhưng tôi lại thấy trong sách báo câu đại loại thế nầy: "Quá trình thực hiện công tác sắp tới của tôi là sẽ rất thuận lợi".Thực là sai lắm rồi. Trong trường hợp nầy, phải dùng chữ tiến trình, đúng cho cả 3 thì quá khứ, hiện tại và tương lai.
HUYỀN THOẠI. Người viết, kể cả những người có bằng cấp cao, không chịu học tiếng Hán, mà lại thích dùng tiếng Hán để tỏ ra "ta đây" nên nhiều tiếng được dùng sai nghĩa một cách thực buồn cười. Thí dụ, tôi rất thường nghe đài truyền hình, truyền thanh và báo chí nói "huyền thoại Pelé" "huyền thoại Maradona".. Người có học nghe thực chướng tai, nhưng người nói chẳng ngượng miệng chút nào. Tại sao nghe chướng tai? Huyền 玄 là màu đen, nghĩa bóng là sâu xa, mờ ảo, không có thực. Thoại 話 là câu chuyện. Vậy huyền thoại là câu chuyện mờ mờ ảo ảo, không có thực, do truyền miệng mà ra. Thí dụ chuyện bà Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, chuyện ông Thánh Gióng cỡi ngựa sắt đi đánh giặc Ân là những huyền thoại. Đằng nầy, ông Maradona, ông Pélé có thiệt 100% sao gọi là huyền. Và 2 càu thủ đó là con người sao gọi là thoại được. Nếu muốn dùng chũ huyền thoại để đề cao 2 cầu thủ đó thì phải nói thế nầy: "Cái tài của 2 ông nầy tưởng như chỉ có trong huyền thoại". Ông bà mình thường nói: "Dốt thì hay nói chữ, có đúng trong trường hợp nầy hay không?"
HÔN PHU, HÔN THÊ. Hôn là cưới, phu là chồng, thê là vợ. Trong chữ phu và chữ thê đã có nghĩa của chữ hôn rồi cho nên gọi hôn phu và hôn thê là để chỉ người chồng người vợ là phi lý. Gọi hôn lễ (lễ cưới) hôn phối (lấy nhau) thì được. Còn nói hôn phu, hôn thê thì có thể hiểu 昬夫,昬妻 là nguời chồng u mê, người vợ u mê cũng như nói hôn quân 昬君 là nhà vua u mê vậy.
2.- Sai vì cố ý sửa nghĩa gốc Hán Việt
ĐỘC LẬP Độc 獨 là riêng một mình, Lập 立 là đứng. Vậy theo nghĩa gốc Hán Việt, độc lập là đứng riêng rẻ một mình, không đứng chung với ai cả. Rõ ràng từ nầy là sai nếu dùng để diễn tả tình trạng của một quốc gia không lệ thuộc nước khác. Ngày nay, các quốc gia như thế đâu có đứng riêng một mình mà đều có liên hệ với nhau trong các tổ chức quốc tế. Vậy từ độc lập là sai. Tôi thấy Cụ Trần Trọng Kim, Cụ Dương Quảng Hàm dùng từ tự chủ để thay thế từ độc lập. Như thế là rất hay. Có người bảo với tôi rằng từ độc lập là do ông Tôn Dật Tiên đặt ra nên không thể bỏ được. Tại sao vậy? Ông Tôn Dật Tiên thì liên quan đến ngôn của Tàu chứ có liên quan gì đến ngôn ngữ Việt Nam. Tàu dùng sai thì chúng ta đâu có buộc phải theo cái sai của họ.
PHONG KIẾN.封建 Phong kiến gồm 2 chữ phong tước 封爵 (ban quan tước) và kiến địa 建地 (ban đất để dựng nước). Phong kiến chỉ chế độ hoàng đế phong tước cho người có công và cấp cho một vùng đất rất rộng để thành lập quốc gia, với quân đội, luật lệ và chế độ thuế má riêng biệt. Chế độ nầy hiện hữu ở đời nhà Chu bên Tàu với nước của thiên tử và nước của các chư hầu; từ nhà Tần trở đi thì chế độ phong kiến bị bị bãi bỏ và được thay bằng chế độ trung ương tập quyền. Chế độ phong kiến cũng tồn tại ở vài nước Âu châu như Pháp, chỉ vào thời Trung cổ mà thôi. Ở Việt Nam không bao giờ có chế độ phong kiến (féodalité) mà chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế (royalisme absolu) mà thôi. Gọi chế độ quân chủ ở Việt Nam bằng từ phong kiến là sai. Có tài liệu còn bảo rằng sự cúng tế đình chùa là tàn tích của phong kiến thì càng sai hơn nữa.
TIÊU CỰC, TÍCH CỰC 消極, 積極 Hiện nay, người ta gán vào hai từ nầy ý nghĩa tốt xấu hết sức rõ rệt. Hành động nào tốt thì được gọi là tích cực; trái lại, hành động xấu thì gọi là tiêu cực. Thực ra, suy từ nghĩa gốc Hán Việt thì sự gán ép như thế là sai. Tich cực, tiêu cực tự nó không có sẵn tính chất tốt hay xấu mà chỉ ấn định cường độ của hành động mà thôi. Thí dụ, trong một đoàn đi làm việc phước thiện thì ai tích cực là tốt và ai tiêu cực là không tốt. Nhưng trong một bọn côn đồ đi tổ chức ăn cướp thì đứa nào tích cực lại là đứa xấu nhất. Trong truyện Tam quốc của Tàu, Từ Thứ, mưu sĩ của Lưu Bị bắt buộc phải về phục vụ dưới trướng của kẻ thù là Tào Tháo. Từ Thứ đã giữ thái độ tiêu cực nghĩa là không hiến mưu kế gì cho Tào Tháo. Thái độ tiêu cực nầy của Từ Thứ, từ cổ chí kim luôn luôn được khen ngợi; vậy tiêu cực có xấu đâu.
3.- Sai vì không phân biệt được tiếng Hán Việt với tiếng thuần Việt (tiếng Nôm).
QUỐC GIỖ. Tôi có đọc được câu nầy: "Ngày giỗ tổ Hùng vương là ngày quốc giỗ". Nói như vậy là sai. Giỗ là tiếng Nôm chứ không phải là tiếng Hán Việt nên không thể đặt sau tiếng quốc được. Hãy bỏ tiếng ngày quốc giố mà dùng tiếng thuần Việt là ngày giỗ cả nước, vừa đúng, lại vừa dễ hiểu, Nơi tiếng Hán, ngày giỗ là kỵ nhật 忌日.Ở một vài tỉnh của Trung Việt, người ta gọi ngày giỗ là ngày kỵ. Ta nên dứt khoát chỉ dùng từ Nôm là ngày giỗ để cho thống nhất toàn quốc.
GÓA PHỤ. Tôi đã gặp vài lần chữ góa phụ trong sách vở báo chí để chỉ người đàn bà có chồng đã chết. Gọi như thế là sai vì tính từ góa là tiếng Nôm, không thể đặt trước danh từ phụ được. Phải gọi người đàn bà góa (toàn Nôm) hay người quả phụ (toàn Hán Việt) thì mới đúng.
ĐỆ NHẬT THÁC. Ở ngõ đi vào của một địa điểm du lịch, có hàng chữ to tướng dùng để quảng cáo "Nơi đây có đệ nhất thác". Viết như thế là sai. Đặt 2 chữ đệ nhất (tiếng thêm nghĩa) trước chữ thác (tiếng chính), là theo văn phạm Hán Việt thì cả hai chữ đều phải là tiếng Hán Việt mới được. Ở đây, tiếng thác là thuần Nôm, thế là bậy rồi. Không có` tiếng Hán Việt nào có nghĩa thác nước. Thác theo tiếng Hán là bộc bố 瀑 布, nhưng đó lại là tiếng Hán thuần túy nghĩa là chưa được Việt hóa thành tiếng Hán Việt nên chưa thể dùng được. Trong trường hợp nầy, nên viết "Nơi đây có thác đẹp nhất", vừa đúng, vừa dễ hiểu lại vừa hấp dẫn khách du lịch.
4.- Sai vì không phân biệt được văn phạm Hán Việt với văn phạm Nôm.
X QUANG. Mỗi lần có chuyện phải vào bệnh viện là tôi rất khó chịu khi nhìn thấy cái bảng "Phòng X quang" Tôi khó chịu vì cái chữ X quang nầy phạm đến 2 lỗi. Một là lỗi về ngữ pháp và một lỗi vể kiến thức khoa học. Về ngữ pháp, quang là tiếng chính, X là tiếng bổ nghĩa. Đặt tiếng bổ nghĩa trước tiếng chính thì đích thị sử dụng văn phạm Hán Việt rồi. Mà muốn dùng lối văn phạm nầy thì cả 2 chữ đều phải là tiếng Hán Việt. Ở đây X là một mẫu tự latin thì sai quá đi rồi. Về khoa học, quang 光 có nghĩa là sáng, ở đây chỉ tia sáng. Tia sáng là tia kích thích được tế bào thị giác để tạo ra ấn tượng sáng. Trong chuỗi sóng điện từ, các tia nầy chỉ chiếm một khoảng rất nhỏ bé với độ dài sóng từ 400 nano mét đến gần 800 nano mét mà thôi. Trong khi đó, tia X (với độ dài sóng từ 0,1 đến 10 nano mét) cách tia sáng khá xa, không kích thích được tế bào thị giác thì chắc chăn không phải là tia sáng rồi. Cho nên dùng chữ QUANG cho tia X là sai be bét về vật lý sơ đẳng của lớp 12 trung học. Tôi chẳng hiểu ông "đại giáo sư tiến sĩ" nào đã bày ra cái tên X QUANG đó. Tại sao không dùng chữ "TIA X" như trước đây ở miền Nam, vừa hay, vừa đúng, vừa đại chúng, vừa thuần túy Việt Nam. Không lẽ người ta muốn dùng chữ "X QUANG" để chứng tỏ ta đây biết "nói chữ" hay sao?
BÊ TÔNG HÓA con đường. Bê tông là từ phu, hóa là từ chính. Đây cũng là văn phạm Hán Việt. Để thành lập từ kép thì cả 2 từ đơn đều phải tiếng Hán Việt. Ở đây bê tông lại là tiếng Pháp (béton) phiên âm ra, do đó nói bê tông hóa là sai. Ngoài ra, nghĩa cũng sai vì từ bê tông hóa được dùng phải được hiểu là con đường đà được biến hóa thành một khối bê tông. Vì vậy, không nên nói bê tông hóa mà nói một cách bình thường: tráng bê tông con đường, vừa đúng lại vừa dễ hiểu.
Còn một lô HÓA rất bậy bạ trong sách vở báo chi, trong chương trình truyền thanh, truyền hình như : nghèo hóa, giàu hóa, no hóa, đói hóa, khôn hóa, dại hóa, vân vân. Tội nghiệp cho ngôn ngữ Việt Nam!
NỮ NHÀ BÁO Tôi còn nhớ, trong chiến tranh I rắc, sau khi lính Mỹ bắn nhầm nhân viên tình báo của Ý bảo vệ người nữ phóng viên vừa được bọn bắt cóc trả tự do, các đài truyền hình ở Việt Nam loan tin nhiều lần và nhắc đi nhắc lại nhóm từ nữ nhà báo. Thực là quá tệ! Nhà báo là tiếng Nôm nên phải dùng văn phạm xuôi và phải nói "nhà báo nữ" Còn muốn dùng văn phạm ngược thì phải dùng 3 từ Hán Việt: "nữ phóng viên" hay "nữ ký giả". Ban biên tập các đài truyền hình không biết điều nầy sao?
TRIỀU CƯỜNG. Từ lâu rồi, tôi thấy xuất hiện rất thường xuyên hai từ triều cường khi người ta nói đến thủy triều trên song.. Hai chữ nầy có thể thay đổi vị trí trước sau và có hai ý nghĩa khác nhau. Cường triều 強 潮 gồm tính từ đứng trước danh từ thì tương đương với một danh từ và có nghĩa là con nước lớn (haute marée). Triều cường 潮 強 thì lại là một mệnh đề gồm một danh từ triều và một động từ cương và có nghĩa là con nước đang lớn lên (la marée monte). Lúc nào cũng dùng chữ triều cường thì có thể sai hơn phân nửa trường hợp rồi. Nhưng tại sao không nói con nước lớn (danh từ) và con nước đang lên (mệnh đề) vừa đúng lại vừa phù hợp với trình độ và thói quen của đại chúng.
HẠT NHÂN. Đây là từ vật lý học chỉ các hiện tượng xảy ra bên trong cái lõi hay cái nhân của nguyên tử. Miền Nam trước đây gọi là hạch tâm. Hạch 核 là cái hạt, tâm 心 là cái lõi hay cái nhân bên trong . Hạch tâm là cái nhân của hạt. Đó là từ ghép theo văn phạm Hán Việt vì cả 2 từ đều là Hán Việt. Bây giờ người ta chuyển sang dùng 2 từ Nôm thì phải theo văn phạm nôm và phải gọi là "nhân của hạt" hay nhân hạt, cũng như bên ngoài gọi "vỏ hạt" chứ không thể gọi là "hạt vỏ" được. Gọi phản ứng hạt nhân, là sai với văn phạm rồi. Cần phải sửa lại: phản ứng nhân hạt mới đúng. Tuy nhiên, theo tôi, nên giữ từ phản ứng hạch tâm thì hay hơn nhiều. Từ nầy không phải là từ của giới bình dân nên cứ giữ tiếng Hán Việt, không cần chuyển sang tiếng Nôm.
TẶC. Từ Hán Việt nầy đang được dùng một cách rất bậy bạ và rất thường xuyên như bọn tôm tặc, vàng tặc, cà phê tặc, để chỉ những tên ăn trộm. Dùng như thế là phạm vào 2 điều sai. Thứ nhất là sai về ngữ pháp: một từ đơn thuần Việt không thể ghép với một từ đơn Hán Việt để thành một từ kép. Thứ hai là sai về nghĩa. Tặc 賊có nghĩa là ăn cướp, đạo 盜 mới có nghĩa là ăn trộm, thí dụ đạo văn 盜文 là ăn trộm văn của người khác. Tại sao người ta không nói một cách giản dị và đúng là: bọn trộm tôm, trộm vàng, trộm cà phê. . . Cũng cần nói thêm về một từ đang được nhiều báo đem dùng. Đó là từ đinh tặc để chỉ bọn rải đinh trên đường phố. Đinh là một từ có gốc Hán Việt 釘 nhưng đã được Việt hóa hoàn toàn rồi nên ghép với từ tặc thì không ổn. Vả lại, nói đinh tặc là sai nghĩa vì từ đó có nghĩa là bọn ăn cướp đinh; thôi bỏ từ đó đi và nên nói một cách giản dị là "bọn rải đinh" thì hơn.
Còn vô số những từ sai khác cùng nguyên nhân trên đây như:
Lớp trưởng, phải sửa lại trưởng lớp,
Nhóm trưởng, phải sửa lại trưởng nhóm
Siêu rẻ, phải sửa lại rất rẻ
Siêu bền, phải sửa lại rất bên
Vi sóng, phải sửa lại vi ba hay sóng ngắn
Vân vân…
5.- Dùng từ vô nghĩa
Bệnh viện DA LIỄU. Lần đầu tiên, thấy bảng chữ nầy, thú thật tôi không hiểu là cái gì. Sau hỏi người bạn bác sĩ mới biết đó là "nhà thương chữa bịnh ngoài da và bệnh hoa liễu". Trời đất! Da là từ thuần Việt. Hoa liễu là từ Hán Việt, sao lại nhập chung một cách kỳ cục như thế. Xét về nguồn gốc, chữ Hán Hoa liễu 花柳 có nghĩa là ổ điếm chứ không phải là một bịnh. Về sau, người ta dùng nhóm từ kép "bịnh hoa liễu" để chỉ cái bịnh lây qua đường tình dục cho những người hay lui tới các hoa liễu. Dùng riêng chữ hoa liễu cho một bịnh đã là sai rồi. Bỏ luôn chữ hoa, chỉ còn chữ liễu thôi thì càng tệ hơn nữa. Riêng chữ liễu 柳 thì có nghĩa là cây liễu. Bệnh viện da liễu tức là bệnh viện chuyên chữa cho bịnh ở da của cây liễu !!!
ĐẠI TRÀ. Tôi nhớ sau năm 1975, một người bạn dạy sử địa kể rằng, lần đầu tiên đọc sách giáo khoa từ miền Bắc đưa vào gặp câu: "Cây chè được trồng đại trà ở vùng nầy". Anh ta hơi hoảng vì dạy sử địa bao năm mà bây giờ không hiểu đại trà là gì. Đại là lớn, còn trà là gì? Anh về lật nhiều tự điển kể cả tự điển Hán Việt ra tra thì chẳng thấy chữ đại trà ở đâu cả. Hỏi thăm mãi anh mới rõ trồng đại trà là trồng rộng rãi khắp nơi. Có lẽ ai đó nổi hứng bịa ra từ vô nghĩa đó để thay thế từ dễ hiểu và có sẵn, rồi sau đó những người khác bắt chước nói theo. Ngôn ngữ mà biến chuyển như thế thì cũng đáng buồn.
SỰ CỐ. Lại một từ vô nghĩa nữa nhưng đang được dùng một cách rộng rãi để chỉ một sự rắc rối vừa mới xảy ra. Trong tiếng tiếng Hán Việt có từ kép cố sự 故事 có nghĩa là chuyện cũ chứ làm gì có từ sự cố. Cái nghĩa mà hiện nay người ta gán cho từ vô nghĩa đó thực là lạ lùng, không thể chấp nhận được.
HOÀN CẢNH. Trong một bài báo, người ta viết: "Cô ây sống hoàn cảnh lắm". Đố các bạn biết người ta muốn nói gì? Xin thưa, muốn nói "Cô ấy đang sống trong hoàn cảnh bi thảm"!!! Các bạn có chịu nổi với cách viết văn như thế đó không ?
ĐÔI CÔNG. Kể từ giải túc cầu thế giới tại Nam Phi, đài truyền hình ở Việt Nam bịa ra một từ mới, đó là từ đôi công và rất thường được lặp đi lặp lại. Theo dõi nhiều trận, tôi mới hiểu ý của các ông trời đó muốn nói: 2 đội chơi đôi công nghĩa là cả 2 đội đều chơi tấn công. Đôi là một cặp (tiếng Nôm), công là tấn công (tiếng Hán Việt). Vậy đôi công là một từ bậy bạ do người kém hiểu biết bịa ra mà hiệu quả rõ ràng là làm xấu đi ngôn ngữ của dân tộc mình. Có người nghĩ rằng, cứ bịa ra những từ mới là làm giàu cho ngôn ngữ. Quan niệm như thế là sai; cũng như muốn làm giàu thì kiếm được thực sự nhiều tiền chức không phải cứ nhét vào tủ các thứ giấy tờ bậy bạ mà gọi làm giàu được.
XÂY DỰNG. "Anh Hai tôi quyết định xây dựng với người yêu của mình" Các bạn đừng tưởng rằng 2 người quyết định đi xây nhà để ở nhé. Không, 2 người quyết định làm đám cưới dó. Viết văn như thế thì hết chỗ để phê bình rồi.
6.- Dùng sai nghĩa từ thuần Việt.
NGƯỠNG. Người ít học cũng biết ngưỡng là một giới hạn rất xác định, một gạch ngang rõ nét, và bước qua vạch ngang đó thì mọi việc sẽ thay đổi một cách căn bản. Thí dụ, ngưỡng cửa là một đường ngang, bên trong là phòng, bên ngoài là sân hay mái hiên chứ không còn là phòng nữa. Một thí dụ khác: khi lượng glucose trong máu tăng lên và vượt qua ngưỡng 1% thì đường thoát ra ngoài theo nước tiểu, còn dưới cái ngưỡng đó thì không hề gì. Ngưỡng có nghĩa rõ ràng như thế và học sinh nào cũng biết. Thế mà mổi đêm, trong mục dự báo thời tiết, xướng ngôn viên cứ lải nhải; nhiệt độ đạt ngưỡng từ 32 đô đến 35 độ. Nghe chịu hết nổi. Tôi không trách người xướng ngôn vì bản tin không phải do người xướng ngôn viết mà do các đấng đại trí thức trong ban biên tập viết nên.
KIÊU NGẠO. Có người nhờ tôi giải thích một câu nói trong sách báo nào đó :"Thằng A hay kiêu ngạo người khác." Tôi không giải thích được vì không rõ câu nầy có nghĩa: "thằng A thường tỏ ra kiêu căng với người khác", hay là "thằng A thường chế nhạo người khác". Chắc chắn cả 2 cách giải thích đều không ổn vì dùng từ kiêu ngạo như thế là sai rồi thì không thể có cách nào giải thích câu nói cho đúng được.
TRAO ĐỔI. Từ nầy có nghĩa là đưa qua đưa lại các vật với nhau. Ngày nay người ta lại dùng từ nầy một cách sai lầm để thay thế cho từ bàn bạc hay thảo luận. Thí dụ: "Để thực hiện chỉ thị, tôi đã trao đổi với đồng chí chử tịch"
7.- Dùng từ thiếu chính xác
CHẤT LƯỢNG. Chất 質là cái khối chứa bên trong một vật (matière,) lượng 量là tính chất của cái gì có thể cân đo đếm được (quantité). Vậy chất lượng hay khối lượng là cái chất bên trong của một vật có thể đo lường được ( masse). Thí dụ: "khối lượng hay chất lượng của một vất là 1 kilo gramme". Thế mà ngày nay người ta dung từ chất lượng để chỉ cái tính tốt xấu của một vật, không thể đo đếm được (qualité). Thí dụ: "Chất lượng của nước giải khát nầy kém lắm, uống không ngon má cò có hại cho sức khỏe nữa".
CẢM GIÁC. 感覺 Đó là sự nhận biết của cơ thể do ngoại giới tác động vào các giác quan của cơ thể. Thí dụ: "Gió về khuya gây cảm giác lạnh. Tiếng đàn gây cảm giác êm đềm". Ngày nay, người ta thường dùng từ cảm giác thay cho từ cảm nghĩ. Thí dụ: 'Với tình hình nầy, anh có cảm giác thế nào?". Thực là sai một cách trầm trọng.
THỐNG NHẤT. Thống nhất 統一 là làm biến mất tình trạng chia rẻ bắng cách gom các thứ về một mối. Ngày nay người ta lại thường dùng từ thống nhất để diễn tả sự đồng ý, cùng chung quan điểm. Thí dụ, người ta đã nói: "Để thực hiện tốt chỉ thị, tôi cần thống nhất đồng chí chủ tịch". Nói như vậy là sai.
GIẢI PHÓNG . Giải phóng 解放 là một từ thường dùng trong lĩnh vực chính trị để chi công cuộc cởi bỏ áp bức, trói buộc cho con người. Ngày nay, người ta lại dùng một cách sai lầm từ nầy cho vật chất. Thí dụ: người ta nói giải phóng mặt bằng thay cho từ đúng là giải tỏa mặt bằng.
ĐĂNG KÝ. Đăng ký 登記 là chép vào sổ một vật được đưa đến. Thế mà ngày, người ta nói: "Tôi đã đăng ký đi nước ngoài" Nghe như người ta sẽ gói tôi lại rồi đem gởi ra nước ngoài. Với con người, không thể nói đăng ký mà phải nói: ghi danh hay ghi tên mới đúng.
8.- Từ vựng lộn xộn.
LÁI XE. Đó rõ ràng là một động từ, hay đúng hơn là một từ kép gồm một động từ và một túc từ. Tuy nhiên, ngày nay người ta cũng dùng từ nầy để chỉ người lái xe, tức là danh từ. Vì vậy, người ta có thể nói: "Sáng nay, lái xe đang lái xe gặp một lái xe khác cũng lái xe, cả hai lái xe cùng lái xe về nhà." Thực là buồn cười. Trước đây ở miền Nam, lái xe dứt khoát chỉ là động từ, còn danh từ phải là người lái xe hay muốn nói gọn hơn thì dùng từ phiên âm Quảng Đông (?), tài xế cũng được rõ ràng minh bạch.
YÊU CẦU. Đây là một động từ. Thí dụ: "Tôi yêu cầu anh đi ngay". Sau 75, tôi gặp ngay trong giáo án (tài liệu chính thức để dạy học) 2 chữ: mục đích và yêu cầu. Động từ yêu cầu đã biến hẳn thành danh từ.
NGHIÊN CỨU SINH. Sinh 生 là tiếng Hán Việt. Dùng làm động từ thì sinh có nghĩa là sống, còn dùng làm danh từ thì sinh có nghĩa là con người đang sống. Thí dụ học sinh là người đi học, giáo sinh là người đi dạy. Nguyên cứu sinh là người đi nghiên cứu. Rõ ràng như vậy, thế mà tôi đã nghe người ta nói và đã thấy người ta viết những câu như "Con tôi được đi nghiên cứu sinh tại Trung quốc" Như thế là nói bậy vì lấy một danh từ làm động từ!
ẤN TƯỢNG. Theo cụ Đào Duy Anh, ấn tượng 印象(impression) là cái hình tượng do ngũ quan cảm xúc mà còn in sâu vào óc. Vậy ấn thượng là một danh từ của tâm lý học. Thế mà ngày nay người ta đem dùng làm tính từ như "cảnh đó rất ấn tượng", và cả động từ nữa, như "tôi rất ấn tượng cảnh đó". Hết sức bậy bạ
THẦN TƯỢNG. 神像 Từ nầy có nghĩa là hình tượng cao quý như thần. Vậy đây là danh từ nhưng, cũng như chữ trên đây, thần tượng được dùng như tính từ như "người đó rất thần tượng", rồi cả động từ nữa "anh có thần tượng đồng chí đó không?"
TRÊN. Rõ ràng đây là một giới từ, bây giờ lại trở thành danh từ. Thí dự: "Cần phải báo cáo cho trên rõ" hay "trên bảo, dưới không nghe".
LÀM TỐT. Tốt là một tính từ bổ túc nghĩa cho danh từ, như hạnh kiểm tốt, sức khỏe tốt. Ngày nay tốt được dùng làm trạng từ bổ túc nghĩa cho động từ, như làm tốt, học tốt, thay vi nói làm giỏi, học giỏi.
LÃNH ĐẠO. Tôi không tìm thấy chữ nầy trong các tự điển Hán Việt nhưng lại có trong tự điển của Tàu hiện nay 领导 và có nghĩa là điều khiển, hướng dẫn con đường đi. Vậy rõ ràng đây là một động từ. Tuy nhiên ngày nay người ta lại dùng làm danh từ. Thí dụ: "Lãnh đạo đã chỉ thị như thế"
Sự rối loạn về từ vựng trong ngôn ngữ thực là điều rất đáng tiếc. Từ đầu thế kỷ 20, do ảnh hưởng của tiếng Pháp, ngôn ngữ Việt Nam dần dần được minh bạch về từ vựng nên trở nên sáng sủa và rõ nghĩa, nay có biểu hiện rối rắm về từ vựng và trở nên tối tăm, có lẽ do mấy ông đi học bên Tàu về. Tiếng Tàu thì rất lôi thôi về từ vựng, ai cũng rõ điều đó.
9.- Cóp tiếng Tàu đang dùng.
LƯU BAN. Học sinh kém quá không được lên lớp thì gọi là lưu ban. Trong tiếng Tàu hiện nay, ban 班 là lớp học nhưng với tiếng Hán Việt (gốc từ tiếng Tàu đời Đường) thì ban không phải là lớp học mà có nghĩa rất xa lạ (ban phát, hạng thứ, đem quân trở về). Do đó, dùng tiếng lưu ban để nói học sinh không được lên lớp thì không ổn chút nào. Dùng chữ lưu cấp 留級 thì gần đúng nghĩa hơn. Nhưng thôi, lưu ban, lưu cấp làm chi. Mình đã có chữ thuần Việt đã dùng từ lâu là ở lại lớp, rất hay vì phụ huynh học sinh nào cũng hiểu được.
TRANH THỦ. Đây là từ mới được đưa vào Nam sau 1975, và có nghĩa là lợi dụng tình hình để làm được việc gì đó. Thí dụ: "trong chuyến đi tham vừa qua, anh ấy đã tranh thủ kiếm chác được chút ít" Tôi đã cố tìm hiểu xuất xứ của từ nầy và nhận ra rằng từ tranh thủ không có trong tiếng Hán Việt nhưng hiện nay đang được dùng bên Tàu.
Việc đem tiếng Tàu hiện nay, phiên âm Hán Việt rồi nhập vào ngôn ngữ Việt Nam là đều điều không hợp lý vì nó sẽ làm rối rắm ngôn ngữ của mình. Nên nhớ tiếng Hán Việt có nguồn gốc tiếng Hán ở đời Đường chứ không phải là tiếng Tàu ngày nay, đã khác khá nhiều với tiếng Tàu đời Đường, về phát âm cũng như về ý nghĩa. Thí dụ,大家 , tiếng Hán Việt đọc đại gia và có nghĩa là người hay gia đình có vai vế trong xã hội, trong khi đó tiếng Tàu hiện đại đọc là dà jià và có nghĩa là tất cả mọi người. Một thí dụ khác: 東西 tiếng Hán Việt đọc là đông tây và có nghĩa là 2 phương hướng, trong khi tiếng Tàu hiện đại đọc là dòng xì và có nghĩa là hàng hóa. Cho nên tiếng Tàu ngày nay phải được xem là ngoại ngữ đối với ngôn ngữ Việt Nam và không nên nhập một cách bừa bãi vào tiếng Việt.
10.- Đảo ngược từ kép làm sai nghĩa.
ĐIỂM YẾU Từ kép nầy gồm 2 tiếng đơn ghép theo văn phạm Nôm có nghĩa là cái điểm không mạnh. Có người đem đảo ngược lại thành yếu điểm theo văn phạm Hán Việt thì lại có nghĩa hoàn toàn khác hẳn: điểm rất quan trọng.
THẤP ĐIỂM. Từ nầy thường được dùng sai một cách thực buồn cười. Cao là tiếng Hán đã được Việt hóa, nên có thể dùng theo văn phạm Hán hay Nôm cũng đều có một nghĩa duy nhất là "ở phía bên trên". Thí dụ: điểm cao và cao điểm cùng một nghĩa. Trong khi đó thấp lại có hai nghĩa khác nhau tùy theo tiếng Hán hay Nôm. Theo tiếng Nôm thì thấp có nghĩa là ở bên dưới, nhưng với tiếng Hán thi thấp có nghĩa là ẩm ướt.. Vì vậy, khi nói điểm thấp thì đó là chỗ ở dưới thấp, nhưng khi đảo lại thành thấp điểm thì có nghĩa là nơi ẩm ướt. Thực là buồn cười khi đọc báo thấy: "giao thông giờ cao điểm, giao thông giờ thấp điểm" hay "dùng điện lúc cao điểm và dùng điện lúc thấp điểm"
11.- Đảo tư kép bừa bãi và không cần thiết.
XA XÓT. Tôi đọc được cách đảo kỳ cục trong một tác phẩm bán rất chạy trong thời gian gần đây. Nguyên câu đã viết là: "…ông Năm xa xót nhìn hai đứa trẻ….". Đảo từ như thế là bừa bãi, chẳng nhằm lợi ích gì. Với văn vần thì có thể tạm chấp nhận sự đảo từ cho hợp thi luật; nhưng với văn xuôi thì không thể đảo từ một cách bừa bãi được.
Còn rất nhiều từ kép bị đảo xuôi đảo ngược vô tội vạ nữa: Nguy hiểm / hiểm nguy; đơn giản / giản đơn; khai triển / triển khai; từ chối / chối từ; bảo đảm / đảm bảo; bền vững / vững bền; minh chứng / chứng minh; phục hồi / hồi phục; biệt ly / ly biệt; tha thướt / thướt tha; thẩn thờ / thờ thẩn; tranh đấu / đấu tranh; thơ ngây / ngây thơ; xúc cảm / cảm xúc; quang vinh / vinh quang; kinh hoảng / hoảng kinh; ái ân / ân ái …..
Ôi thôi, nhiều quá, quá nhiều, không sao kể hết ngay tức thì được.
Có lẽ trên thế giới, không ngôn ngữ nào có các từ bị đảo ngược lung tung như ngôn ngữ Việt Nam hiện nay.
Cứ cái đà nầy, tôi e có ngày mình sẽ đọc được một câu thế nầy: "Người sĩ-chiến sinh-hi ngoài trận-mặt để vệ-bảo quốc-tổ, dân-nhân ở phương-hậu phải tỏ lòng ân-tri với các hùng-anh sĩ-liệt"!!!
12.- Ghép từ bừa bãi.
KÍCH CẦU. Đó là nhóm từ "kich thích nhu cầu tiêu thụ" được ghép cho ngắn lại làm cho nghĩa trở thành hết sức tối tăm. Nghe từ ghép "kích cầu", tôi cứ tưởng công việc của mấy ông công chánh đang thực hiên ở dưới sông. Cách ghép nấy nghe rất chướng tai nhưng lại rất phổ biến hiện nay.
GIAO HỢP. Có một chuyện ghép từ rất khôi hài mà người ta thường hay kể lại. Chuyện thế nầy: Đồng chí giám đốc phài một nữ nhân viên qua một xí nghiệp bạn với lời dặn đò cẩn thận: "Cô hãy sang đó và cố gắng thuyết phục cho họ chịu giao hợp nhé". Ý đồng chí giám đốc muốn nói giao hợp có nghĩa là giao thiệp và hợp tác; không biết cô nữ nhân viên có hiểu đúng ý đồng chí giám đốc hay không
13.- Dùng từ dao to búa lớn
CHIẾN. Đá bóng chỉ là một trò chơi thể thao thuần túy thế mà các xướng ngôn viên và bình luận viên của chúng ta luôn luôn gọi đó là cuộc chiến. Cuộc chiến thì phải có đổ máu, phải có quyết tâm tiêu diệt kẻ thù hay ít ra làm cho kẻ thù phải khốn đốn. Một hôm đi ngang qua sạp báo tôi thấy một tờ báo chạy một cái tựa rất lớn ở trang nhất: "nội chiến ở bán đảo Ibérique". Tôi giật mình không hiểu tại sao giữa hai nước anh em Tây ban nha và Bồ đào nha lại nổ ra chiến tranh. Tôi vội vã móc tiền ra mua ngay tờ báo đó rồi chạy nhanh về nhà để đọc. Đọc xong, tôi ngã ngửa, Thì ra, trong một cuộc bốc thăm do FIFA tổ chức, hai đội tuyển bóng tròn của Tân ban nha và Bồ đào nha gặp nhau trong cuộc chơi play-off. Thế mà người ta dám gọi là nội chiến. Xin chào thua cách dùng ngôn từ Việt Nam ngày nay.
CHIẾN ĐẤU. Tôi đã từng nghe nói: "Chúng ta phải cương quyết chiến đấu với tư tưởng sai trái". Nghe thực đáng sợ.
NGÀI. Đã có lúc, nhân danh lập trường giai cấp, lập trường ta bạn thù, người ta gọi các lãnh tụ của nước tư bản bằng thằng nọ thằng kia. Bây giờ, chúng ta chơi với tư bản thì ai người ta cũng gọi bằng "ngài". Ngài thủ tướng, ngài đại sứ, ngài nghị sĩ, vân vân. Nghe có vẻ nịnh bợ quá đi thôi.
THAM QUAN. 參觀 Đi chơi để ngắm cảnh thì gọi là tham quan, có nghĩa là tham dự vào một công cuộc xem xét, nghiên cứu. Gọi thế mới hách chứ.
NGHIÊN CỨU SINH. Đi học thêm ở ngoại quốc, chuyện quá tầm thường, nhiều khi lợi dụng làm chuyện bậy bạ, lại tự tâng bốc mình là đi nghiên cứu.
14.- Dùng từ Hán Việt thay từ Nôm một cách kỳ cục.
KHẨN TRƯƠNG Một đồng nghiệp của tôi định cư tại Uc từ năm 1975. Cách đây vài năm, thầy về Việt Nam lần đầu tiên và dùng tàu hỏa ra Hà nội thăm quê. Giữa khuya, tàu đến ga Đồng hới thuộc tỉnh Quảng bình. Đang ngủ say, bỗng thầy giật mình tỉnh dậy vì tiếng loa "… hành khách khẩn trương lên". Thầy hoảng hồn phóng xuống giường, chạy ra khỏi buồng của toa xe vì tưởng xe trật đường rầy hay có hỏa hoạn xảy ra. Nhưng không, nhân viên trên toa tàu chỉ nhắc nhở hành khách nào xuống tàu ở ga nầy thì nhanh lên, thế thôi! Tội nghiệp, thầy Phụng hoảng hồn cũng phải vì ở miền Nam trước đây, ngươi ta ăn nói một cách giản dị và chỉ hay dùng tiếng Hán Việt trong văn chương và khi có việc nghiêm trọng mà thôi.
BÁO CÁO. Một người bạn đã nói với tôi: "Báo cáo anh, chiều nay tôi phải lên xe về Hà nội". Tôi nghe chữ báo cáo thì cứ tưởng anh ta đang nói với một vị tư lệnh trên chiến trường.
15.- Thay từ Hán Việt thông dụng bằng từ Nôm bất hợp lý.
MÁY BAY LÊN THẲNG. Cái loại máy bay có thể bay lên mà không cần phi đạo, ngày trước người miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, từ người có học đến người thất học, đều gọi bằng một cái tên rất gọn là trực thăng. Sau 1975, người ta sửa lại là máy bay lên thẳng, không hiểu lý do tại sao.
LÍNH THỦY ĐÁNH BỘ. Ngày trước miền Nam có một binh chủng đặt tên là Thủy quân lục chiến. Đó gần như là một danh từ riêng. Sau 75 thì sửa lại là lính thủy đánh bộ cho có vẻ nôm na, dù thủy và bộ vẫn là tiếng Hán Việt. Có người bảo rằng cái gì của ta thì dùng tiếng Hán Việt mới bảnh, còn cái gì của kẻ thù thì dùng tiếng Nôm để làm giảm giá trị. Nếu quả đúng như thế thì đó thực là một quan niệm hết sức sai lầm và xúc phạm một cách trầm trọng đến giá trị tiếng thuần Việt của dân tộc mình.
16.- Chưa có được những từ thỏa đáng cho khoa học và kỷ thuật hiện đại.
COMPUTER dịch là máy vi tính là không thỏa đáng. Máy vi tính có nghĩa là máy dùng làm những phép tính rất nhỏ. Chức năng của computer không phải chỉ như thế. Xin để dành cho các nhà chuyên môn về kỷ thuật và các nhà ngôn ngữ nói chuyện với nhau để chọn từ cho chính xác.
INFORMATION TECHNOLOGIE dịch là tin học, cần xét lại 2 điểm. Thứ nhất, tecgnologie là một kỷ thuật, dịch bằng một chữ học trơ trọi thì không ổn. Thứ hai, muốn dùng từ kép "tin học" thì 2 từ đơn phải đều là tiếng Hán Việt. Nhưng tin là tiếng Nôm còn tín mới là tiếng Hán Việt. *ON LINE, OFF LINE, dịch là trực tuyến và ngoại tuyến thì e không ổn. Ở tiếng Mỹ, on và off là 2 từ đối nghịch nhau thì dịch sang tiếng Việt cũng cần 2 từ đối nghịch nhau mới được. Cho nên dùng 2 từ trực và ngoại thì chẳng ổn chút nào. Một lần nữa, chúng ta chờ đợi sự bàn bạc giữa các chuyên viên kỹ thuất và ngôn ngữ.
Thursday, January 9, 2014
Wednesday, January 8, 2014
Không thèm đón xuân
Đã có một thời hắn là người gõ đầu trẻ, có một gia đình ấm êm. Hắn cho bi kịch đời hắn bắt đầu vào ngày người ta phát hiện vợ hắn có một khả năng nghệ thuật bẩm sinh. Bắt đầu là hội diễn phường, sau đó đến quận, rồi người ta rước vợ hắn lên tận trung ương. Vợ hắn trở thành người của xã hội. Dần dần, hắn bắt đầu thấy vợ mình trên các trang báo, truyền hình nhiều hơn ở nhà. Rồi một lần trở về nhà, chị ta vênh váo như một con rận có chửa, làm hắn không còn nhớ lời sách dạy, dang tay đánh vào cái mặt xinh đẹp mỗi khi cử động lại kêu cót két vì trát đầy phấn của chị. Thế là chị dắt thằng con duy nhất ra đi.
Từ đó hắn buồn, dìm mình và cả gia sản trong rượu giải sầu. Hắn bị nhà trường đuổi việc vì lúc đáng phải đứng trên lớp đọc chính tả cho lũ trẻ con, thì hắn lại nằm lảm nhảm một mình dưới một bờ bụi nào đó. Hắn bắt đầu thấm nỗi cô đơn "còn thắm hơn máu đỏ". Cứ mùa xuân đến, hắn lại mở toang cửa chờ vợ và con hắn trở về. Hắn chờ vô vọng được 8 năm rồi...
Năm nay mùa xuân lại đến, hắn lấy phấn viết ngoài cửa bốn chữ "Không thèm đón xuân", rồi đóng chặt cửa tự nhốt mình lại. Ngay đoàn cán bộ phường đến tặng quà cho gia đình có hoàn cảnh khó khăn hắn cũng chẳng mở...
Có một buổi sáng, hắn loạng choạng bước ra ngoài. Hắn thấy mình yếu quá rồi, đẩy mấy lần, cánh cửa mọt mới mở tung. Hắn ngạc nhiên thấy những chùm hoa màu da cam pha đỏ tía rơi rụng trên thềm nhà. Hóa ra nửa tháng, trong khi hắn sống bằng mì ăn liền và rượu sắn, giữa những cơn say và mộng mị triền miên, thì cây hoa lẵng tiêu leo trên mái nhà hắn được hưởng no đủ khí trời mùa xuân, đã vội vã vươn những cánh tay non căng đầy nhựa sống lên bức tường nhà nứt nẻ của hắn, bám vào cánh cửa nhà hắn. Hắn không thèm đón mùa xuân. Nhưng mùa xuân vẫn đến hắn!
Thursday, November 28, 2013
Khúc Nguyệt Cầm
Marcel Proust (1871-1922)
KHÚC NGUYỆT CẦM *
1
Hơn cả những cơn mệt dọc đường, ký ức và mối lo ngại về những sự khó tính của cha tôi, sự lãnh đạm của Pia,[1] sự hung hăng của những kẻ thù tôi đã làm tôi kiệt sức. Ban ngày, bên cạnh Assunta,[2] tiếng hát của nàng, sự dịu dàng của nàng đối với tôi mà ít khi nàng có được, vẻ đẹp của nàng màu trắng, màu nâu và màu hồng, mùi thơm còn giữ lại trong từng cơn gió biển, cái lông cắn trên nón nàng, những hạt trai trên cổ nàng đã làm tôi khuây nguôi. Nhưng, vào khoảng chín giờ tối, tôi cảm thấy nặng nề khó chịu, tôi bảo nàng lấy xe trở về và để tôi ở lại nghỉ ngơi ngoài trời một tí. Lúc đó chúng tôi đã tới gần Honfleur; chọn nơi này thật là tốt, sát bên một bức tường, ngay chỗ đi vào hai con đường lớn có những cây cao chắn gió, không khí thật êm dịu; nàng bằng lòng và bỏ tôi lại đó. Tôi nằm dài trên bãi cỏ, mặt hướng lên bầu trời tối; được ru ngủ bởi tiếng sóng của biển khơi mà tôi nghe phía sau tôi nhưng không trông rõ được trong đêm tối. Chẳng mấy chốc tôi đã ngủ thiếp đi.
Liền đó tôi mơ thấy trước mặt tôi bóng mặt trời lặn đang chiếu sáng bãi cát và mặt biển ở phía xa. Hoàng hôn phủ xuống, và tôi thấy dường như đó là một buổi mặt trời lặn và một buổi hoàng hôn như tất cả những buổi hoàng hôn và tất cả những buổi mặt trời lặn khác. Nhưng bấy giờ có người đem đến cho tôi một lá thư, tôi muốn mở ra đọc mà không trông rõ được gì hết. Chỉ lúc đó tôi mới chợt thấy rằng dù ánh sáng in xuống chói chang và tỏa rộng, trời vẫn rất tối đen. Ánh mặt trời lặn hôm đó mờ nhạt một cách lạ lùng, chói lọi mà không có ánh sáng, và trên bãi cát được chiếu rõ một cách thần diệu có tụ lại nhiều bóng tối đến nỗi tôi cần phải làm một cố gắng khó nhọc mới nhận ra được một vỏ ốc. Trong cảnh hoàng hôn đặc biệt cho những giấc mộng này, thật giống như một buổi mặt trời lặn bệnh hoạn và nhạt màu trên một bãi cát gần bắc cực. Những nỗi buồn khổ của tôi đột nhiên tan biến; những quyết định của cha tôi, những tình cảm của Pia, ác ý của những kẻ thù tôi vẫn còn chế ngự tôi, nhưng không còn áp đảo tôi, như một sự cần thiết tự nhiên và đã không còn quan hệ. Sự mâu thuẫn của cái rực rỡ tối mù đó, phép mầu nhiệm trong giây phút thần diệu làm ngưng những nỗi đau đớn của tôikhông gợi nơi tôi một mối nghi ngờ nào, một nỗi sợ hãi nào cả, mà trái lại tôi như được vây phủ, tôi đẫm mình, chìm đắm trong một sự dịu dàng đang tăng dần mà nỗi vui sướng dạt dào rốt cuộc đã đánh thức tôi dậy. Tôi mở mắt ra. Rực rỡ và xanh xao, giấc mộng của tôi trải rộng ra quanh tôi. Bức tường mà tôi đã dựa lưng vào để ngủ đầy dẫy cả ánh sáng, và bóng cây trường xuân in dài trên tường cũng rõ ràng như vào lúc bốn giờ chiều. Đám lá của một cây bạch dương Hòa lan lóng lánh xoay chiều theo một làn gió nhẹ. Người ta thấy những làn sóng và những cánh buồm trắng trên mặt biển, bầu trời trong sáng, trăng đã lên. Thỉnh thoảng, những đám mây nhẹ bay qua mặt trăng, nhưng những đám mây lúc đó nhuộm đủ các sắc xanh rất nhạt tựa như màu một con sứa đông lạnh hay như trong lòng một viên đá mắt mèo. Tuy nhiên ánh sáng lúc đó đang chiếu rõ khắp nơi, mắt tôi không thấy được nó ở đâu cả. Ngay trên mặt cỏ, lúc đó đang rực rỡ trông như ảo ảnh, bóng tối cũng vẫn còn giữ lại. Những khu rừng chung quanh và một đường rãnh hoàn toàn tối đen. Đột nhiên, một tiếng động nhẹ thức dậy ngân dài như một mối lo âu, vang lớn rất nhanh, nghe như chạy dài trong cánh rừng. Đó là tiếng lá run rẩy xào xạc theo cơn gió nhẹ. Tôi nghe từng chiếc lá dồn dập nổi dậy như những cơn sóng trong cái im vắng mênh mông của đêm đen dày đặc. Rồi tiếng động đó lại giảm dần và tắt hẳn. Cả một dòng ánh sáng nằm giữa hai bờ bóng đêm tựa như con sông chảy trên cánh đồng cỏ hẹp trải dài trước mặt tôi giữa hai lối đi lớn đầy đặc những cây sồi. Trong khi chiếu rõ ngôi nhà gác, những đám lá, một cánh buồm đang chìm đắm trong đêm tối, ánh sáng trăng đã không đánh thức chúng dậy. Trong cái yên lặng như ngủ thiếp đó, mặt trăng chỉ soi rõ cái hình bóng mơ hồ huyễn hoặc của chúng, và làm ta không thể thấy rõ được những đường nét mà đối với tôi ban ngày thật hiển hiện, những đường nét bắt buộc tô phải tin chắc sự hiện diện của chúng, và sự có mặt tầm thường của chúng mãi mãi bên tôi. Ngôi nhà không cửa, đám lá không cây, gần như cũng không có một chiếc lá nào, cánh buồm không thuyền, thay vì là một thực tại không thể nào chối cãi được và là một thực tại thường xuyên vô vị, lại có vẻ như một giấc mơ kỳ lạ, chơi vơi và rực rỡ của những cây cối buồn ngủ đang đắm chìm trong bóng tối. Thật thế, những khu rừng chưa bao giờ ngủ say sưa như vậy, người ta cảm thấy là mặt trăng đã thừa dịp để lẳng lặng hoàn thành cuộc lễ vĩ đại xanh xao và dịu dàng này trên bầu trời và trên biển cả. Nỗi buồn của tôi đã biến mất. Tôi nghe cha tôi đang mắng tôi, nghe Pia chế giễu tôi, nghe những kẻ thù tôi đang âm mưu và chẳng có gì trong những thứ đó đối với tôi là thực cả. Cái thực tại duy nhất đã nằm trong luồng ánh sáng phi thực này, và tôi cầu khẩn nó mà vừa mỉm cười. Tôi không hiểu được sự giống nhau huyền bí nào đã kết liền những nỗi đau đớn của tôi với những sự huyền bí trang nghiêm đang hành lễ trong những khu rừng chung quanh, trên bầu trời và trên mặt biển, nhưng tôi cảm thấy rằng những nỗi đau đớn đó đã đọc lên những lời giải thích, an ủi và dung thứ, và dù trí óc tôi không hiểu được niềm bí ẩn cũng chẳng có gì quan trọng, bởi vì tim tôi đã nghe thấy quá rõ. Tôi gọi tên đêm tối là mẹ thánh tôi, nỗi buồn của tôi đã nhận mặt trăng là người chị bất diệt của nó, mặt trăng chiếu sáng trên những niềm đau biến hình của đêm tối và trong tim tôi, trong đó những đám mây đã tan dần, và nỗi buồn mênh mang dâng lên.
2
Rồi tôi nghe tiếng chân bước. Assunta đi về phía tôi, khuôn mặt trắng của nàng nổi lên trên một chiếc áo choàng rộng màu sẫm. Nàng nói với tôi giọng hơi nhỏ: "Em sợ anh bị lạnh, thằng em của em đã lên giường rồi, em trở lại đây." Tôi tiến lại gần nàng; tôi rùng mình, nàng kéo áo choàng khoác cho tôi và để giữ lại tà áo, nàng choàng tay qua cổ tôi. Chúng tôi bước vài bước dưới bóng cây, trong bóng đêm sâu thẳm. Một vật gì chiếu sáng trước mặt chúng tôi, tôi không kịp lùi lại và tưởng rằng chúng tôi vấp phải một thân cây, tôi đi lệch sang một bên đường, nhưng chướng ngại vật biến mất dưới bước chân chúng tôi, thì ra chúng tôi đã bước đi trên một mảnh trăng. Tôi áp đầu nàng vào sát đầu tôi. Nàng mỉm cười, tôi bèn khóc, và tôi thấy nàng cũng khóc nữa. Đến đó thì chúng tôi hiểu được rằng mặt trăng đang khóc và nỗi buồn của nó cũng hòa âm với nỗi buồn của chúng tôi. Những luồng ánh sáng dồn dập rực rỡ và êm dịu của nó đi vào đến tận tim chúng tôi. Như chúng tôi, mặt trăng cũng khóc, và cũng gần luôn luôn như chúng tôi, nó khóc mà không biết tại sao, nhưng lại cảm thấy mình khóc một cách mùi mẫn đến nỗi nó kéo theo trong nỗi thất vọng dịu dàng không làm sao ngăn được của nó những khu rừng, những cánh đồng, và cả bầu trời lúc này lại soi xuống mặt biển, và luôn cả tim tôi cuối cùng trong tim trăng đã nhìn thấy rõ.
NHƯ DƯỚI ÁNH TRĂNG *
Đêm đã đến, tôi vào phòng ngủ, trong lòng âu lo vì giờ đây phải nằm trong bóng tối, không còn trông thấy được bầu trời, những cánh đồng và biển khơi lấp lánh dưới ánh nắng. Nhưng khi tôi mở cửa, tôi thấy cả căn phòng toả rực áng sáng như trong buổi hoàng hôn. Qua cửa sổ tôi trông thấy ngôi nhà, những cánh đồng, bầu trời và biển cả, hay đúng hơn những thứ đó tôi như "thấy lại trong giấc mơ"; mặt trăng êm dịu đã nhắc tôi nhớ đến chúng chứ không phải đã cho tôi thấy chúng, trong khi trăng tỏa rộng trên hình dạng chúng một thứ ánh sáng nhạt màu không làm tan mất bóng đêm, bóng đêm lúc đó dày đặc như một mối quên lãng trên hình thể những cảnh tượng đó. Và tôi đã ngồi hàng giờ nhìn trong sân nhà cái kỷ niệm câm lặng, mơ hồ, tươi vui và đã mờ phai của những sự vật vào buổi ban ngày đã làm tôi vui sướng hay khổ đau, với những tiếng thét của chúng, những giọng nói của chúng hay tiếng lao xao âm ỉ của chúng.
Tình yêu đã tắt, tôi lo sợ trên ngưỡng cửa quên lãng; nhưng rồi cũng lắng dịu, hơi mờ nhạt, gần kề bên tôi mà lại cũng xa xôi và mơ hồ, tựa như dưới ánh trăng, tất cả những niềm hạnh phúc đã qua và những mối đau buồn đã được khuây nguôi của tôi nay lại nhìn tôi và nín lặng. Cái im lặng của những vui buồn đó làm tôi xúc động tuy nó xa cách và phai nhạt như vậy làm tôi cảm thấy một nỗi ngất ngây buồn bã mà thi vị. Và tôi không thể nào không nhìn mãi ánh trăng kia trong lòng tôi.[3]
----------------------
* Hai đoản văn "Khúc nguyệt cầm" (đăng lần đầu tiên trên tạp chí Văn số 85 ở Saigon, 1967, số đặc biệt về Marcel Proust) và "Như dưới ánh trăng" được dịch từ nguyên tác "Sonate Clair de lune" và "Comme à la lumière de la lune" trong Marcel Proust, Les Plaisirs et les Jours, Nxb. la Nouvelle Revue française, Paris, 1924. Có nhiều liên tưởng có thể nêu ra đây:
1. Ngày 16 tháng 9 năm 1894, từ Trouville, Proust viết cho người bạn nhạc sĩ của mình là Reynaldo Hahn, cũng là người có bốn khúc nhạc cho dương cầm được in chung trong ấn bản Les Plaisirs et les Jours đầu tiên (1896): "Trời lúc này rất đẹp, có những ánh trăng mà anh sẽ được đọc một diễn giải theo cách anh... " (Il fait un temps charmant, des clairs de lune dont vous lirez une interprétation selon vous... ) Chắc hẳn Proust muốn ám chỉ đến hai bản văn "Khúc nguyệt cầm" ("Sonate Clair de lune") và "Như dưới ánh trăng" ("Comme à la lumière de la lune"). Đây là hai trong nhiều đoản văn đẹp trong Les Plaisirs et les Jours.
2. "Ánh trăng" cũng là nhan đề phổ thông của bản Sonate pour piano en do dièse mineur op. 27 no. 2 [Sonata quasi una fantasia] (1801) của L.W. Beethoven. Có liên hệ gì chăng khi sau này trong Un amour de Swann, Proust gợi lại chương trình một buổi tối ở Chatou, Biche tuyên bố "không được có một chút ánh sáng nào và mình [nhạc sĩ dương cầm] chơi bản sonate Clair de lune trong bóng tối để có thể thấy rõ hơn mọi vật toả sáng như thế nào"?
_________________________
[1]Tất cả những tên người trong Les Plaisirs et les Jours đều mang vẻ ngoại lai và xưa, thường gợi những vùng đất ở Trung Âu, vùng Balkan, Ý, hoặc dẫn từ văn học. Pia/Pie và Assunta/Assomption là những tên Ý. Trong tranh ảnh Ki tô giáo, hình tượng Đức bà Đồng trinh Quy thiên (Assomption) thường được mô tả trong tư thế đứng trên một mặt trăng lưỡi liềm.
[2]Như chú thích 1.
[3]Câu kết của đoản văn này là tiếng dội của tên một đoản văn khác, "Coucher de soleil intérieur", trong Les Plaisirs et les Jours.
Tản văn của Marcel Proust
MARCEL PROUST
(1871-1922)
"Tuileries" là bài đầu tiên trong số 30 đoản văn (cũng có thể gọi là "thơ văn xuôi") mang tựa đề chung "Những giấc mơ màu thời gian" (Rêveries couleur du temps) để dưới một tựa đề chung khác là "Những luyến tiếc" (Les regrets) trongLes Plaisirs et les Jours (Thú vui và Ngày tháng), tuyển tập đầu tay của Proust được ấn hành. Nhà thơ Hoàng Ngọc Biên — dịch giả Proust đầu tiên của Việt Nam — đã chuyển ngữ được nhiều bài trong tuyển tập này.
Như tựa đề Đi tìm thời gian đã mất, nói chung, và "Những giấc mơ mang màu thời gian" nói riêng, cho thấy, thời gian đã là nỗi ám ảnh trọn đời của Proust. Khác với loài vật, con người luôn luôn ý thức về hiện tại, quá khứ và tương lai, nghĩa là ý thức về thời gian. Bởi vì thời gian ảnh hưởng tới con người và tạo vật. Qua lăng kính của thời gian mọi hình ảnh sẽ khác hẳn. Thời gian thay đổi và tiêu diệt tất cả, tình yêu, hạnh phúc, vân vân, thậm chí nó cũng có thể huỷ diệt luôn cả những kỷ niệm và ký ức, và cách duy nhất để tồn tại, theo Proust, là đi tìm thời gian đã mất — không phải với "trí nhớ tự ý" xuất phát từ lý trí và sự hồi tưởng máy móc (mémoire volontaire) chỉ có thể mang về cho ta những mẩu quá khứ chết khô, nhạt nhẽo, mà phải bằng "trí nhớ không chủ ý" do cảm xúc và mùi vị (mémoire involontaire) có thể làm sống lại quá khứ tinh khôi và trọn vẹn, mà Proust đã kể ra hai thí dụ (chiếc bánh madeleine nhúng vào tách nước trà trong một ngày mùa đông ở Paris và bước chân khập khễnh của người kể chuyện trên những lát đá không đồng đều nhau trong sân nhà Guermantes) đã hồi sinh toà "lâu đài mênh mông của kỷ niệm" — dùng trí nhớ không chủ ý mà đi tìm thời gian đã mất, để sống lại trọn cuộc đời mình một lần thứ hai trong một tác phẩm văn chương, và tồn tại, nếu không vĩnh viễn thì cũng có thể lâu dài hơn, cho tới khi chính nó cũng bị thời gian tàn phá.
Nguyễn Đăng Thường
_____________
VƯỜN TUILERIES [**]
Sáng nay trong vườn Tuileries mặt trời tuần tự thiếp ngủ trên các bậc thang đá như một gã thiếu niên tóc vàng mà một chiếc bóng lướt qua làm gián đoạn tức khắc giấc ngủ nhẹ nhàng. Các chồi xanh đối nghịch toà dinh thự cổ. Hơi thở của gió ngất ngây pha trộn hương hoa đinh[***] với mùi của quá khứ. Các pho tượng nơi công trường thường khiến cho mọi người khiếp sợ như khi gặp một mụ điên, ở đây đang mơ mơ màng màng trong những khóm cây như những nhà hiền triết dưới vòm lá xanh ngời che chở màu trắng của chúng. Các bể nước có trời xanh nằm nghỉ dưới đáy long lanh như những ánh mắt. Từ trên sân thượng cạnh bờ nước người ta có thể nhìn thấy, từ cái xóm cũ trên bến Orsay bên kia bờ, một người lính kỵ binh như từ một thế kỷ khác bước ra. Dây leo tràn ra ngoài các chậu phong lữ.[***] Say nắng, hoa hướng nhật[***] tự thiêu đốt mùi hương. Trước điện Louvres các nhánh tường vi thoai thoải phóng mình lâng lâng tựa những cột buồm quý phái và duyên dáng ửng hồng đôi má thiếu nữ. Óng ả và si tình các vòi nước túa nước lên không trung. Ở cuối sân thượng, một chàng kỵ mã bằng đá dong dỏng cao phi ngựa tại chỗ, cặp môi dán chặt vào chiếc kèn nhạc vui, thể hiện nhiệt tình của Mùa Xuân. Nhưng bầu trời bỗng tối sầm, trời sắp mưa. Các hồ nước, không còn óng ánh màu xanh của trời, trông chẳng khác gì những cặp mắt trống vắng cái nhìn hay những chiếc bình đầy nước mắt. Cái vòi nước phi lý, bị gió quất mạnh, càng lúc càng nhanh tung lên trời tiếng hát bỗng như giễu cợt. Sự êm dịu vô ích của hoa đinh là một nỗi buồn man mác. Và ở đằng kia, đôi chân bằng đá cẩm thạch kích thích bởi sự chuyển động tĩnh và cuồng trong cuộc phi nước đại tại chỗ đến chóng mặt, chàng kỵ mã vô ý thức vút mãi tiếng kèn không thôi trên nền trời đen tối.
------------
Nguồn: Marcel Proust, Les Plaisirs et les Jours (Paris: Gallimard, 1993).
_________________________
Ghi chú của người dịch:
[*]Trong nước mới đây có thêm một bản dịch Proust với tựa đề Đi tìm thời gian đã mất, chưa rõ của dịch giả nào. Nếu người dịch chuyển ngữ được hết trọn bộ bảy cuốn thì hay lắm, vì mỗi cuốn dày cộm mang tựa đề riêng dưới cái tên chung Đi tìm thời gian đã mất. Hy vọng bản dịch ấy có được sự trung thực khá cao, không cắt tỉa văn bản tuỳ nghi và cắt khúc quá nhiều các câu văn dài của Proust, thể hiện sự liên tục của lối kể chuyện gần như độc thoại nội tâm và dòng thời gian cuồn cuộn.
[*]Vườn Tuileries (Le jardin des Tuileries gọi tắt "Les Tuileries") là một công viên lớn ở ngay trung tâm Paris, bên bờ sông Seine (hữu ngạn), khởi xây theo lệnh (1553) của hoàng hậu Catherine de Médicis vợ vua Henri II, tại vị trí một lò ngói cũ (les tuileries) ở thế kỷ 16 và được tiếp tục mở mang hoàn chỉnh thêm ở các thế kỷ tiếp nối. Cổng sau của công viên ăn thông qua vườn Carousel, nhỏ hơn, và điện Louvres. Cổng trước mở ra quảng trường Concorde và đại lộ Champs Élysées thẳng tắp tới Khải Hoàn Môn (Arc de Triomphe) do Nã Phá Luân ra lệnh (1806) xây cất để ghi chiến công hiển hách sau trận Austerlitz, đại thắng hai đồng minh Áo-Nga, bị gián đoạn dưới thời kỳ khôi phục chế độ quân chủ (Restauration), và chỉ được hoàn tất (1833-36) dưới triều vua Louis Philippe; về sau có đặt thêm mồ chiến sĩ vô danh. Catherine de Médicis (1519-1589) thuộc dòng họ Médicis giàu có và danh tiếng ở Florence (Ý) đã bảo trợ các nhà danh họa Michelangelo, Botticelli... Catherine de Médicis đã văn minh hoá nước Pháp với kiến trúc Ý và thức ăn Ý, trong đó có món kem đã được người Pháp nhập khẩu vào Việt Nam trong thời thuộc địa.
[***]Lilas: hoa đinh. Géranium: hoa phong lữ. Héliotrope: hoa hướng nhật.
Wednesday, November 13, 2013
Subscribe to:
Posts (Atom)









