Monday, October 18, 2010

Ta và Địch



Đám cưới, đám ma... ta đi với Địch,
Tham quan, du lịch,... ta đi với Ta.
Chiến sự xảy ra, ta về với Địch.
Nằm trong lòng Địch, ta nhớ về Ta.

Không muốn đi xa tất nhiên là Địch
Thích đi du lịch chắc chắn là Ta
Bắt ta ở nhà tất nhiên là Địch
Nói năng hách dịch không phải là Ta
Tin nhắn gọi ra chắc không phải Địch
Khi ở với địch, ta muốn thăm Ta
Khi vui với ta, xót xa cho Địch
Mập mờ  lý lịch, biết Ta là ai?
Địch thì một hai, bắt ta rửa bát ...
Ta thì thích hát « anh uống gì không »?
Khi túi rỗng không ta về với Địch.

(*) Vợ là Địch, Bồ là Ta

chúng ta, những kẻ bội thu…

Đỗ Trung Quân - chúng ta, những kẻ bội thu…


Đỗ Trung Quân
 

Chúng ta đang gặt một mùa bội thu sự vô cảm
Vì chúng ta gieo nó
Chúng ta phó mặc cho định mệnh vì chúng ta không tin gì cả.
Chúng ta quen nói dối
Làm từ thiện cũng thích nói dối, cũng thích đập kèn khua trống. cũng chỉ muốn độc quyền từ thiện. lu loa trên truyền thông với gương mặt của “con giả vờ”. chúng ta tranh dành nhau đến cả thiên tai. xứ nó có cửa khẩu sướng thế sao bão lụt còn “chiếu cố” tràn vào? xứ ta chỉ trông bão tố, lũ lụt mới mong kiếm được chút tiền cứu trợ. Vài chục nóc nhà phải kê thành vài trăm mới mong ơn trên gia cố.
Chúng ta gieo mầm dửng dưng nên gặt về lạnh nhạt. chúng ta gieo sự tàn nhẫn nên gặt về toàn án mạng. giết người như đùa vui. chúng ta thờ ơ với con người nên gặt về con vật.
Chúng ta.
Tự tay ghi vào lý lịch
Định mệnh của dân tộc mình.

Sunday, October 17, 2010

Ghi chép Ph. Q.

Một cuộc bàn cãi sôi nổi đang diễn ra ít lâu nay trong một số anh em đồng nghiệp báo chí nước Nam chúng tôi. Đó là về việc nước Nam có một nền văn hóa dân tộc không. Một dân tộc nổi danh hiếu học, tự hào về các bậc túc nho, qua bao thế kỷ có sản sinh ra được một nền văn hóa dân tộc mang bản sắc riêng không? Hay rốt cuộc nó chỉ là một cậu học trò, dù đôi khi là một học trò xuất sắc, nhưng vẫn là một học trò của nước Trung Hoa, người mẹ của toàn bộ văn hóa và văn minh, cô giáo duy nhất của tất cả các dân tộc Viễn Đông?
Một số người cho rằng nước chúng tôi đã có nền văn hóa riêng và họ dẫn ra tên tuổi của những vị tiến sĩ nổi danh trong quá khứ làm điểm tựa cho lập luận của mình. Một số khác thì vặn lại rằng tất thảy các vị tiến sĩ đó chẳng để lại được cái gì độc đáo mà chỉ nhai nhải lặp lại những kinh điển Nho giáo xưa cũ ai cũng biết, và thực tế là nước Nam chưa bao giờ có một nền văn hóa dân tộc khác biệt với của Trung Hoa.
Xét một cách tuyệt đối, ý kiến của những người sau có lý. Nước Nam bao giờ cũng chỉ là một học trò của Trung Hoa. Trong nghệ thuật, văn học, tôn giáo, triết học, nó luôn sống dựa vào kho tàng quan niệm chính truyền từ Trung Hoa. Khác với Nhật Bản đứng riêng như một quốc đảo chỉ tiếp nhận từ Trung Hoa những gì cần cho sự phát triển những nét riêng biệt của họ, nước chúng tôi toàn sao chép mọi thứ của nước láng giềng khổng lồ. Và nếu có thể nói rằng nghệ thuật nước Nam chẳng hạn, dù có lấy cảm hứng từ Trung Hoa, nhưng vẫn mang dấu vết riêng của nước Nam khiến cho nghệ thuật nước mình khác với nghệ thuật của Thiên Quốc, thì ta khó mà có thể cũng nhận xét như vậy về văn học hay triết học, là những môn không bao giờ vượt thoát được vết xe cũ của Trung Hoa, không bao giờ tự giải phóng được khỏi những nguyên tắc kinh viện nặng nề và cổ hủ.
Rành rành là cái ách tinh thần của Trung Hoa đã đè nặng lên xứ sở này tới mức ngăn cản đầu óc người Nam tấn tới và phát triển theo nguồn mạch riêng của mình. Mặt khác, việc nằm sát nách một nước lớn luôn có cơ hội xâm lược và cướp đi nền độc lập giành được sau gần mười thế kỷ gian khổ đấu tranh đang duy trì chúng tôi trong mối lo thường xuyên khá bất lợi cho sự tự do nảy nở các năng lực vô tư của tinh thần. Uy lực không gì so sánh nổi của nước láng giềng đó với một lịch sử lâu dài và một nền văn minh đáng nể lại đủ sức uy hiếp một dân tộc nhỏ đã táo gan muốn bảo vệ bằng mọi giá nền độc lập chính trị của mình song lại không bao giờ tin rằng nước mình có thể chinh phục được nền độc lập tinh thần và luân lý của mình.
Nhưng cái góp phần nhiều nhất vào việc cầm giữ nước Nam trong cái có thể gọi không quá là sự nô lệ tinh thần đối với Trung Hoa, ấy là hệ thống khoa cử mà ở nước chúng tôi, cũng như ở Trung Hoa – và đó chính là nguyên nhân suy tàn của nó – đã thực sự trở thành một thiết chế nhà nước, thiết chế quan trọng hơn cả, được trọng vọng hơn cả, trịnh trọng nhất hạng. Chính thể chuyên chế tìm thấy ở thiết chế này một công cụ thống trị tuyệt vời nên đã bao phủ quanh nó những điều hào nhoáng nghi thức thiêng liêng. Và thiết chế đó đã hoành hành trong suốt một thời gian dài đến mức có thể nói là nó đã góp phần hun đúc trí não người Nam vào cùng một cái khuôn cổ truyền và kinh viện.
Thời Trần, Phật giáo và Lão giáo còn được nghiên cứu cùng với Nho giáo. Nhưng kể từ cuối Trần, Nho giáo đã trở thành quốc giáo độc tôn. Các kỳ thi đánh giá công cuộc học tập và là cánh cửa duy nhất mở vào đường làm quan gồm bài kinh sách và văn sách không có chút ích lợi gì cho trí tuệ. Suốt năm trăm năm, những đầu óc ưu tú của đất nước đã bị khuất phục dưới chế độ suy tàn này, một chế độ giết chết mọi tính độc đáo và hủy diệt mọi tư duy độc lập.
Làm thế nào một nền văn hóa dân tộc lại có thể ra đời và phát triển trong hoàn cảnh như vậy được?
Mặt khác, muốn có một nền văn hóa dân tộc thì phải tồn tại một ngôn ngữ dân tộc hoàn thiện xứng đáng là ngôn ngữ văn hóa. Thế nhưng các nhà nho xưa của chúng tôi chỉ luôn viết bằng chữ Hán, một thứ chữ Latin của vùng Viễn Đông. Ít ai nghĩ đến việc trau dồi tiếng mẹ đẻ mặc dù nó rất phong phú và đẹp đẽ. Có một số người đã thử dùng nó để làm thơ và việc họ sáng tác được một số tác phẩm hay bằng tiếng Nam cho thấy nếu người ta biết làm cho nó uyển chuyển hơn, trong sáng hơn nữa thì nó có thể là một công cụ quý báu giải phóng tinh thần cho dân tộc chúng tôi.
Nhưng điều mà cha ông chúng tôi không biết làm hay không thể làm – vì họ chịu quá sâu ảnh hưởng Trung Hoa – thì bây giờ chúng tôi phải làm, nhờ vào ánh sáng từ Tây phương dọi tới.
Đó là một sự nghiệp lớn lao đang chờ đợi tất cả những người làm thành giới đặc tuyển tinh thần mới của xứ sở này, bất kể phẩm trật của họ ra sao.
Tạo ra cho nước Nam một nền văn hóa dân tộc, và trước hết, xây dựng một ngôn ngữ dân tộc có thể dùng làm ngôn ngữ văn hóa, theo tôi đó là nhiệm vụ thiết yếu, là sự nghiệp cải biến và đồng thời là công cuộc xây dựng lớn lao đặt ra cho trí tuệ và cho mọi nỗ lực của những nhà trí thức mới ở nước Nam.
Về phần tôi, đó luôn luôn là cái đích mà tôi không ngừng theo đuổi suốt gần hai mươi năm nay.
Ngay khi đầu óc tôi bắt đầu biết nhận dạng một số thực tại nhất định, tôi đã có một linh cảm nhanh chóng biến thành niềm tin rằng, để làm công việc giải phóng chính trị cho dân tộc này thì trước hết cần phải làm công việc để giải phóng cho nó về tinh thần và luân lý đã. Và như vậy chủ nghĩa quốc gia của tôi trước khi đem ra thi thố trên trường chính trị đã được bắt đầu thực hiện trong lĩnh vực ngôn ngữ và văn hóa.
Một cộng tác viên của tờ Revue du Pacifique (Tạp chí Thái Bình Dương) đã rất hiểu điều đó khi một năm trước đây ông cho công bố hai bài viết quan trọng về “Chủ nghĩa quốc gia Đông Dương”. Đây là đoạn ông đánh giá công việc tôi đang cố làm trong lĩnh vực này. (Tôi trích dẫn không phải vì lời đánh giá của ông ta có thể làm vinh dự cho tôi, mà chỉ vì đó là một thí dụ hiếm thấy của một tác giả Pháp đã bỏ công nghiên cứu và tìm hiểu cuộc tiến hóa tinh thần ở xứ này):
“Trong số những người thuộc “Phái trẻ nước Nam” chỉ có một số ít đáng mặt coi là quốc gia chủ nghĩa qua một số tư tưởng nền tảng của họ: đó là phái của ông Phạm Quỳnh ở Bắc Kỳ. Ông đã dùng hết tài năng văn học và sự am hiểu ngôn ngữ của mình vào việc phát triển tư tưởng dân tộc. Ông muốn có được một thứ tiếng nước Nam hoàn thiện, được nâng cao lên, có thể vượt lên việc dùng tiếng Pháp. Ông muốn duy trì triết học truyền thống được cập nhật và thích ứng với những nhu cầu của đồng bào mình. Ông muốn cứu vớt nền văn minh nước Nam khỏi sự Âu hóa vội vàng mà ông thấy đó là tác hại vì một khi công việc đó làm hủy hoại thần thái giống nòi thì nó cũng hủy hoại luôn ngay cả tư tưởng về tổ quốc. Những tư tưởng hoàn toàn đáng nể trọng và được bảo vệ một cách rất đáng chiêm ngưỡng này, vả chăng lại không được nói ra dưới dạng một chủ nghĩa quốc gia hiếu chiến đối với nước Pháp. Ông đủ khôn ngoan để vẫn coi uy quyền nước Pháp là cần thiết. Ông chấp nhận nó, thậm chí ông còn thích nó hơn tất cả các uy quyền nào khác, nhưng ông đòi hỏi ở nó một chủ nghĩa tự do và một thái độ vô tư để nó phải tôn trọng nước Nam, cho phép nước Nam dưới sự che chở yên ổn của nó được phát triển hết mức bản sắc độc đáo của mình”.
Tôi xin lỗi đã trích dẫn hơi dài những lời tóm tắt rất chính xác điều mà tôi có thể gọi là chủ thuyết của mình. Tác giả bài viết đó ký tên bằng những chữ cái viết tắt họ tên, nếu tôi không nhầm, là một trong những quan chức nổi bật nhất của Sở Nội vụ. Về phần liên quan đến tôi, ông tỏ ra đã hoàn toàn hiểu tôi và tôi chỉ có thể biết ơn một sự sáng suốt rất hiếm có ở các nhà lãnh đạo chúng tôi, nghĩ rằng ta nên thừa nhận điều này.
Như vậy, theo chủ thuyết mà tôi đã xướng lên từ nhiều năm qua, tôi đã gắng nghiên cứu một cách hệ thống việc làm giàu và hoàn thiện tiếng nước Nam, và tôi tin mình đã có thành công nhất định trong việc đó.
Cách đây khoảng mười lăm năm tiếng nước tôi còn rất chật vật trong việc diễn đạt những tư tưởng trừu tượng. Bây giờ thì nó đã làm được việc đó dễ dàng hơn nhiều. Tôi không phải tự phụ mà tin rằng đó là sự nghiệp duy nhất của tôi; nhưng tôi đã góp một phần khá lớn vào đó và trong việc này tôi đã được hỗ trợ nhiều từ sự hiểu biết của mình về ngôn ngữ và văn chương Pháp. Người ta sẽ không bao giờ nói hết được việc tiếng nước Nam hiện đại chịu ơn tiếng Pháp đã cấp cho nó sự trong sáng, sự minh bạch, sự chân xác hoàn toàn mới.
Công việc hoàn thiện ngôn ngữ này còn cần phải được tiếp tục một cách kỹ lưỡng hơn, nhưng bước đi đầu tiên đã đi rồi, và nó chứng tỏ ngôn ngữ của chúng tôi một khi được đổi mới, được làm giàu thì nó hoàn toàn có khả năng dùng làm ngôn ngữ văn hóa.
Công cụ đã sẵn sàng. Vấn đề bây giờ là phải bắt tay xây dựng một nền văn hóa dân tộc mà chúng tôi đang thiếu. Nó sẽ là kết quả của sự kết hợp hài hòa Đông Tây, giống như ngôn ngữ làm phương tiện chuyển tải cho nó.
Như tôi đã nói ở bên trên, tiếng Nam mới đã thành công trong việc vay mượn ở tiếng Pháp một số phẩm chất: sáng sủa, chính xác, logic. Cái nền, tức là vốn từ vựng và những cách biểu đạt chính của cú pháp thì là của tiếng Nam, nhưng hình hài thì đang chuyển theo dáng dấp Pháp rồi: dù sao đi nữa thì tiếng Pháp cũng đã bắt đầu in dấu vào tiếng Nam. Và đấy là công thức đúng.
Công thức này cũng sẽ áp dụng cho nền văn hóa dân tộc mới của nước Nam. Cái nền ở đây sẽ bắt nguồn từ chính lối tư duy Viễn Đông, là Nho, Phật, Lão; nền văn hóa đó phải được tạo nên từ các “cổ học Hán Nôm” này mà việc giảng dạy chúng phải được tổ chức sao cho nó có phương pháp. Nhưng hình hài thì phải là kiểu khoa học Tây phương trong cả nội dung lẫn phương pháp, với kỹ thuật chắc chắn, khách quan rõ ràng, chính xác hoàn hảo và những nguyên lý chặt chẽ, mà vẫn không loại trừ phần trực giác vốn có của tri thức Đông phương, một thứ tri thức vừa khoa học vừa minh triết.
Tóm lại, “áp dụng hình thức khoa học Tây phương vào nội dung tri thức Đông phương”- như một nhà phê bình xuất sắc đã nói – đó là con đường phải theo để xây dựng một nền văn hóa dân tộc của nước Nam.
Ít ra thì tôi cũng hiểu như vậy về sự nghiệp cải cách trí tuệ và luân lý mà chúng tôi phải tiến hành ngay cùng với cuộc cái cách chính trị mà tôi đã có dịp trình bày nhiều lần liên tiếp.

Nhật ký Thượng Thư Bộ Học Phạm Quỳnh

Copy from blog Phạm Tôn

CHUYỆN MỘT ĐÊM MỘT NGÀY (9-10 tháng 3 năm 1945)

Phạm Quỳnh


KVCT

—o0o—
Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm tối xong, tôi đương ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông, và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên khi ở phía dưới.
Đương phân vân chưa hiểu chuyện gì thì chợt thấy quan Đề đốc Hộ thành Phan Gia Chung chạy vào Bộ. Ông nói “Có biến to. MOT DEM 1 NGAYNghe đâu lính khố đỏ phản lại Tây, đương đánh nhau dữ. Xin cho đóng các cửa thành. Tôi cũng hối ông truyền cho lính đóng chặt các cửa thành, nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Khi bấy giờ đứng ở thềm bộ Lại, ông Đề với tôi cùng sực nhớ Hoàng Đế và Hoàng Hậu ngự ra Quảng Trị đã mấy bữa nay, có lẽ chiều nay hay sáng mai về, nhưng chưa biết hiện giờ đã hồi loan chưa. Vì những khi các Ngài ngự vi-hành như thế này, thì chỉ lính canh trong Đại-nội và viên Võ-hộ-giá tây mới biết rõ giờ đi giờ về mà thôi. Tôi nói với ông Đề: “Thôi, quan lớn cứ đốc xuất việc cấm phòng trong thành cho cẩn mật. Để tôi vô Nội, nếu Ngài đã hồi loan thì tôi chầu Ngài, nếu chưa thì tôi sẽ tìm quan ba Bon để hỏi.” Ông Đề cũng nói: “Phải đấy, cụ nên vô Nội để chầu các Ngài là phải”. Bấy giờ, trời tối đen và hơi mưa phùn, ông liền nói: “Đã sẵn cái xe tay kéo tôi đây, cụ lên xe và đi cho mau.”
Tôi khoác cái “măng tô”, rồi lên xe đi, con trai tôi và một tên lính đạp xe đạp theo sau. Đến cửa Hòa Bình, tôi gõ cửa hỏi Ngài đã hồi loan chưa, thì cửa đóng kín mít, không tiếng trả lời: có lẽ lính canh đứng vào trong xa không nghe thấy, có lẽ nghe thấy mà đương lúc lộn xộn không biết ai không dám thưa.
Tôi liền bảo xe kéo vào nhà quan ba Võ-hộ-giá, ở tận bãi trong xa. Bấy giờ đêm lại càng tối, không trông thấy gì cả. Vào đến gần nhà quan ba cũng thấy tối mịt, không thấy đèn lửa gì. Đứng trong vườn rộng, con tôi và tên lính phải hết sức lên tiếng gọi bồi, hỏi quan ba có nhà không đến mười phút không thấy tiếng người, đã toan quay xe ra, mới thấy trong nhà bật đèn.
Chúng tôi đi vào, bồi ra mở cửa, hỏi thì nói quan ba còn đương ngủ, để vào đánh thức. Đợi năm phút mới thấy ông Bon chạy ra, như còn mơ ngủ, chưa hiểu chuyện gì. Hỏi có nghe tiếng súng không, thì ông nói: “Có lẽ lại báo động giả, chứ gì!” Sau nghe kỹ, ông mới hiểu là có chuyện biến. Tôi hỏi: “Ông có biết bao giờ Ngài ngự về? Hiện đã dời Quảng Trị chưa? Hồi loan đêm hôm nay, hay ngày mai?” Thế ra ông mơ hồ không biết chi cả. Tôi giục ông phải gấp làm thế nào thông tin tới Quảng Trị cho biết Ngài ngự ở đâu. Bấy giờ xem ra ông cũng hơi hoảng, bàn với tôi nên vô Nội để sẽ liệu.
Rồi mấy người cùng đi ra, đêm càng khuya càng tối và tiếng súng vẫn lác đác bốn phương. Ông Bon thuộc đường đi trước, chúng tôi đi theo sau. Ra khỏi vườn được một ít thì nghe trong đêm tối có tiếng người và tiếng gươm súng đụng chạm. Rồi có tiếng hỏi: “Có phải quan ba Bon đó không?” Thì ra có toán hiến binh Nhật Bản đương đi vào nhà ông Bon để tìm bắt. Rồi họ thấy chúng tôi đi lên, họ cũng giữ lấy. Bấy giờ có người thông ngôn Việt Nam đi theo, nói tiếng ta với tôi rằng: “Hiện quân Nhật đương giải võ quân Pháp, vì có việc lôi thôi giữa quân quan Nhật và Toàn quyền Decoux. Nhưng không việc gì đến người Việt Nam ta. Chỉ sáng mai là xong chuyện cả.”
Rồi nghe tiếng người hỏi: “Nhà ông Vĩnh Cẩn ở đâu?” Nhà ông Vĩnh Cẩn cũng ở gần ngay đấy. Rồi cả đoàn kéo vào. Quân Nhật xô cửa vào, mấy người trèo lên lầu, mấy người đứng bên dưới. Tôi ngồi với ông Bon ở nhà dưới. Được một lát thì có người hạ sĩ quan Nhật đưa cho tôi xem một mảnh giấy vừa chữ ta vừa chữ tây, đại khái cũng nói như lời người thông ngôn nói khi hồi, rồi mời tôi lên lầu, giao ông Bon cho lính canh ở dưới. Lên lầu thấy ông bà Vĩnh Cẩn ngồi cả đấy. Một lát nữa thì thấy ông Đề đốc Hộ thành cũng đến. Có viên quan Nhật Bản chung ngồi nói chuyện. Tôi thấy mệt vào nằm nghỉ ở một gian phòng cạnh đấy, vừa chợp mắt thì thấy tiếng người: Nhìn ra thì là quan phó lãnh sự Ishida, tôi đã quen biết, đi với một vị võ quan nữa. Ông bắt tay chào tôi, mời ra ngoài nói chuyện, rồi giới thiệu cho quan Đội trưởng Hiến binh Sơn Dã đại úy. Ông nói: “Chúng tôi có vào tìm cụ, ở Bộ Lại không thấy. Có vào cả các bộ khác, để tìm các cụ, có cụ ở Bộ, cũng có cụ đi khỏi. Chúng tôi muốn nói rõ cho các cụ biết đầu đuôi việc xảy ra như thế, và xin cứ yên tâm, quân đội sẽ bảo toàn châu đáo.” Ông lại nói: “Hiện khởi sự ở toàn cõi Đông dương, ở Sài Gòn, Hà Nội cũng cùng một giờ này, và có lẽ hiện đã xong rồi.” Rồi ông hỏi tin tức về Hoàng Đế. Hai ông bàn với nhau bằng tiếng Nhật hồi lâu, rồi nói lại với tôi rằng: “Bây giờ đã khuya rồi, cụ cứ nghỉ lại đây, đừng đi về Bộ vội, vì còn có tiếng súng bắn, đi đường có nguy hiểm. Sáng sớm mai, chúng tôi sẽ lại đây, rồi cụ cùng đi với chúng tôi ra Quảng Trị để rước Ngài về.” Hai ông ra về, tôi đi nghỉ.
Sáng hôm sau chủ nhật, tôi vừa khăn áo ngồi đợi, thì hai ông vừa tới. Ông Ishida nói: “Vừa có tin, Hoàng Đế và Hoàng Hậu đã ở Quảng Trị về từ khi đêm. Nhưng xe Ngài hiện còn ở cửa An Hòa, mời cụ cùng chúng tôi ra rước Ngài về điện.”

PQTôi liền lên xe ô tô của Hiến binh, cùng với quan ba Hiến binh và ông phó lãnh sự ra cửa An Hòa. Đến nơi thì thấy xe Ngự đã ở đó, chung quanh có quân quan Nhật và một khẩu đại bác đương bắn vào đồn lính Tây ở Mang Cá. Tôi liền đến trước xe, tâu qua tình hình, rồi rước Ngài về Điện. Ngài ban rằng xe tới từ khuya mà đứng đợi đấy mãi đến giờ. Rồi ban cho lên xe, cùng chầu vô Nội. Đi trước là xe của Hiến binh, ở trong vẫn có quan ba Hiến binh và quan phó lãnh sự. Đến trước cửa Hòa Bình, thì xe Hiến binh đứng ra một bên, để xe ngự vào. Tôi xuống gọi cửa: lính canh nghe rõ tiếng tôi và tiếng xe ngự, liền mở cửa. Xe Hiến binh xin phép đi theo sau. Đến trước thềm lầu Kiến Trung, Hoàng Đế và Hoàng Hậu xuống xe. Bấy giờ hai vị quan Nhật mới ra trình diện, cúi đầu chào, do tôi giới thiệu, và xin phép chầu ngài mấy phút để tâu mấy lời. Hoàng Hậu lên lầu nghỉ, Hoàng Đế liền ngự vào phòng khách, rồi ban tôi mời hai vị cùng vào. Hoàng Đế ngự ghế giữa quan ba Sơn Dã, đứng bên, rất kính cẩn nói mấy câu bằng tiếng Nhật, rồi trao một tờ giấy cho ông Ishida. Ông này dịch lại lời quan ba ra tiếng Pháp có câu xin lỗi Hoàng Đế, đêm khuya Ngài ngự về giọc đường quân quan không biết, có điều gì sơ suất xin Ngài ban xá. Rồi đọc tờ giấy bằng chữ Pháp, là lời của quan Tổng tư lệnh quân đội Nhật ở Đông Dương, hiện ở Sài Gòn, thỉnh cầu Hoàng Đế và chính phủ Việt Nam hiệp sức với quân đội Nhật, và xin Ngài cứ ngự tại Đại Nội, không quan ngại gì, Hoàng quân sẽ bảo toàn châu đáo.
Ngài ban cảm ơn, và giao cho tôi giao thiệp với quí quan mọi việc rồi hai ông lui ra, tôi cũng tâu xin ra để Ngài nghỉ, sẽ vô chầu sau.
Hai ông cùng đi ra Bộ Lại với tôi, nói chuyện chừng mười lăm phút. Khi ấy vào khoảng mười giờ hơn. Đương lúc nói chuyện thì viên hạ sĩ quan vào trình việc MOT DEM 2NGAYgì. Hai ông nói lại với tôi là ở Huế việc đã gần xong, chỉ còn đồn Mang Cá chống lại chưa hàng mà thôi. Hai ông khuyên tôi cứ ở Bộ, đừng ra ngoài vội, vì đương khi đánh nhau, đạn lạc tên bay, có nguy hiểm. Tôi nói tôi cần phải vô Nội chầu Ngài, sợ lính Nhật canh các đầu đường trong thành có cản trở chăng. Quan ba Sơn Dã liền viết cho tôi một tờ giấy thông hành để đi lại trong thành cho tiện. Trước khi ra về, ông Ishida có tin cho tôi biết rằng hiện có quan đặc sứ Yokoyama ở Huế, ngài sẽ đến thăm tôi, nhưng không nói giờ nào. Tôi nói quan sứ Yokoyama thì tôi đã biết, đã có dịp tiếp chuyện ngài năm trước, và sẽ hân hạnh được thừa tiếp lần nữa.
Bấy giờ tiếng súng đại bác và liên thanh vẫn không ngớt, bắn vào Mang Cá.
Chừng bốn giờ chiều thì có tin trong Nội Hoàng Đé ban triệu tôi. Tôi liền khăn áo vô chầu. Bấy giờ Hoàng Đế, Từ Cung và Hoàng Hậu đương đứng ở sân lầu Kiến Trung. Tôi chầu chuyện ba ngài giờ lâu, rồi Hoàng Đế ban cho tôi tối phải vào ngủ trong Nội, để túc trực phòng việc cần. Bấy giờ tiếng súng đã ngớt. Chợt nghe tiếng xe ở cửa Hòa Bình, rồi thấy tên lính canh chạy vào bẩm với tôi có hai xe ô tô quan Nhật xin vô Nội. Hoàng Đế ban tôi ra tiếp, rồi Ngài ngự lên lầu.
Tôi truyền cho lính ra mở cửa để xe các quan vào. Tôi chực ở trước cửa Ngự Tiền văn phòng. Hai xe tới nơi, thời ở xe trước xuống, thấy quan đặc sứ Yokoyama, võ quan lãnh sự Ishida tôi đã biết, đi cùng với quan lãnh sự Watamata, bấy giờ mới giới thiệu. Xe sau là võ quan và quân lính hộ vệ tùy tùng. Tôi mời các quan lên buồng giấy nói chuyện. Sau mấy câu hàn huyên, quan đặc sứ tỏ ý muốn chầu Hoàng Đế để tâu việc cần. Tôi liền qua lầu Kiến Trung để tâu lại, Ngài ban mời các quan vào phòng khách tiếp chuyện.
Hoàng Đế ngồi giữa, đặc sứ Yokoyama ngồi tay phải, còn hai bên thì hai quan lãnh sự Watamata và Ishida với tôi.
Buổi tiếp kiến này là một giai đoạn rất quan hệ trong lịch sử nước ta, vì là buổi đề cập tới vấn đề độc lập nước Việt Nam, sau này sẽ có dịp tự thuật tường, để cống hiến một tài liệu cho lịch sử, không tiện biên chép lại- thảo ngay bây giờ.
Sau cuộc tiếp kiến ấy, liền có cuộc hội đồng đặc biệt Viện Cơ Mật trong phòng nhỏ Hoàng Đế tại lầu Kiến Trung vào bảy giờ tối.
Rồi mười giờ đêm hôm ấy, các cụ Cơ Mật lại họp ở Bộ Lại để tiếp quan đặc sứ và thảo tờ Tuyên bố Độc lập.
Hai cuộc hội đồng đó cũng như cuộc hội kiến trên, đều là những việc quan trọng, thuộc về lịch sử, tôi được may mắn dự vào, đóng một vai chính, sau này sẽ có dịp thuật tường.

“Nguồn cảm hứng từ Thiên nhiên”

 

Phát biểu của ông AHMED DJOGHLAF
Tổng Thư Ký của Hội nghị Đa dạng Sinh học
Nhân dịp Hội Thảo
“Nguồn cảm hứng từ Thiên nhiên”
14 -10- 2010
NAGOYA, Nhật bản


Thưa Quý Bà và Quý Ông,
Tháng Tám năm nay, công ty tư vấn McKinsey đưa ra một thống kê cho thấy 59 phần trăm các vị giám đốc công ty  thấy  sự đa dạng sinh học là cơ hội cho công ty của họ hơn là mối đe dọa. Điều này hiển nhiên đối với Phỏng Sinh Học (biomimicry). Các công ty tăng nguồn cảm hứng sáng tạo từ thiên nhiên trong việc thiết kế sản phẩm của họ. theo phương châm của Aristotle  “Nếu có một cách thức nào tốt hơn cách thức kia , bạn có thể tin được đó chính là cách thức của Tự Nhiên.”
Đơn cử một ví dụ, hình dáng chiếc mỏ của Chim Bói Cá Ấn độ đã được mô phỏng cho mũi tầu cao tốc Shinkansen (bullet train) và do đó giảm thiểu lực ma sát của không khí, trong khi lớp sơn chống bám bụi bẩn lại được chế tạo phỏng theo kiến trúc bề mặt của lá sen. Hãng chế tạo máy bay Airbus cũng nhiệt tình ứng dụng phỏng sinh học trong công nghệ của họ . Máy bay của họ mô phỏng da cá mập để xuyên vào khí quyển hiệu quả hơn: máy bay chở khách lớn nhất, A380, đạt được chỉ tiêu thấp nhất về tiêu thụ nhiên liệu, ít hơn 3 lít cho một hành khách cự ly 100 km, tương đương ít hơn  75g  CO2 trên hành khách trên km.
Thực tế, Airbus đã hợp tác với Đại hội để hỗ trợ chương trình giáo dục lơp trẻ về đa dạng sinh học Làn Sóng Xanh (The Green Wave), và 20 hãng hàng không khác sẽ hợp tác với chúng tôi sang năm. Tôi hy vọng rằng đây chỉ là khởi đầu  Tôi hy vọng đây là khởi đầu của xu hướng sắp nở rộ trong những năm tới: cộng đồng doanh nghiệp rộng lớn sẽ tham gia, cả ở đây Nhật bản và ở nước. Hãng Nippon Keidanren đã khởi động mạnh mẽ với tuyên bố 2009 về đa dạng sinh học, trong đó tham gia giải quyết  “ Hành động tự nguyện và kiên trì để giảm thiểu những tác động đến đa dạng sinh học, và quảng bá tinh thần trách nhiệm xã hội sẽ mang lại lợi ích to lớn cho đa dạng sinh học”  Cho phép tôi cảm ơn quý vị về sáng kiến tuyệt vời này, và đề nghị quý vị dùng COP10 (Hội nghị đa dạng sinh học 10) làm bàn đạp để hành động.

Kỷ yếu của hội nghị COP10 sẽ trở thành lịch sử. Trong hai tuần tới, 193 thành viên sẽ kết thúc và chuẩn thuận bản chiến lược đầy đủ 2011-2020 chống lại sự mất mát đa dạng sinh học với sự tham gia của các bên, kể cả cộng đồng doanh nghiệp. Để đưa các doanh nghiệp tư vào chương trình, đối thoại cấp cao giữa các Giám đốc Công ty và Bộ trưởng Chính phủ sẽ tiến hành ngày 28-10-2010, cùng với hội chợ Messe Nagoya Công nghệ và Đa dạng sinh học.

Chúng ta không thể chờ đợi lâu hơn nữa. Báo cáo thứ ba về Đa dạng Sinh học Toàn cầu mới đây chỉ ra rằng các chủng loại động thực vật tiếp tục tuyệt chủng với tốc độ 1000 lần nhanh hơn so với tốc độ tuyệt chủng một cách tự nhiên. Bản báo cáo báo động rằng nếu thiếu một chương trình hành động phối hợp một sự mất mát lớn về đa dạng sinh học sẽ xảy đến trước cuối thế kỷ này và hệ sinh thái sẽ đến điểm tới hạn, dẫn tới những suy vong sinh thái không cứu vãn được và sẽ có hậu quả  khốc liệt với đời sống con người.
Nhà thơ Nhật bản Matsuo Basho nói “theo gót thiên nhiên để trở về với thiên nhiên”. Sự thông tuệ này những doanh nghiệp tư nhân nên nắm bắt và tăng cường nghiên cứu phát triển ngành phỏng sinh học, phối hợp với bảo tồn đa dạng sinh học, trong năm 2010 Năm quốc tế về Đa dạng sinh học và nhiều năm sau đó.
Cảm ơn quý vị đã theo dõi.


 STATEMENT
BY MR AHMED DJOGHLAF
THE EXECUTIVE SECRETARY OF THE
CONVENTION ON BIOLOGICAL DIVERSITY
ON THE OCCASION OF
THE “INSPIRED BY NATURE” FORUM
14 OCTOBER 2010
NAGOYA, JAPAN

Ladies and Gentlemen,
In August this year, the management consulting firm McKinsey released a report showing that 59 percent of executives see biodiversity as more of an opportunity than a risk for their companies. This is certainly true when it comes to biomimicry. Companies are increasingly that are drawing upon nature for inspiration in designing their products, which brings to mind Aristotle’s dictum “If one way is better than another, you may be sure it is Nature’s way.”
For example, here in Japan the shape of the common Indian kingfisher’s bill was used to design the first car of the Shinkansen bullet train and thereby provide it with low air resistance, while stain-resistant paint finish was developed by mimicking the surface structures of a lotus leaf. The airline giant Airbus is also embracing biomimicry in its engineering. Its planes mimic sharkskin to cut through the air more efficiently: its largest passenger aircraft, the A380, has set a new benchmark for fuel consumption at less than three litres per 100 seat kilometres, corresponding to less than 75g of CO2 per passenger per km.
In fact, Airbus has recently partnered with the Convention to support our youth biodiversity education programme The Green Wave, and 20 other airlines companies are set to join us next year. I hope this is just the beginning of trend that will blossom in years to come across: the business community as a whole needs to get involved, both here in Japan and abroad. Nippon Keidanren has made a great start with its 2009 declaration on biodiversity, in which it resolved amongst other things to “Act voluntarily and steadily to reduce impacts on biodiversity, and to promote socially responsible activities that will substantially benefit biodiversity.” Allow me to thank you many times over for this wonderful initiative, and urge you to use COP10 as a springboard to further action.
The proceedings of COP10 will be truly historic. Over the next two weeks our 193 Parties will finalize and adopt a comprehensive 2011-2020 strategy for stopping biodiversity loss with the participation of all stakeholders, including the business community. To engage the private sector, a high-level dialogue between Chief Executive Officers and Government Ministers will be held on October 28th, along with the Messe Nagoya technological fair on biodiversity.
We cannot afford wait. The third edition of Global Biodiversity Outlook has recently shown that species worldwide continue to disappear at up to 1,000 times the natural background rate. The report further warns that without concerted action massive further loss of biodiversity is projected to occur before the end of the century and that ecosystems are approaching tipping points beyond which they will be irreversibly degraded, with dire consequences for human wellbeing.
The great Japanese poet Matsuo Basho said “follow nature and return to nature”. That is the wisdom that the private sector must increasingly seek embrace through research and development in biomimicry, coupled with biodiversity preservation efforts, both during this 2010 International Year of Biodiversity and well beyond it.
Thank you for your kind attention.

Tinh thần thể dục


tại sân vận động huyện có cuộc đá bóng thi, nhiều chiến tướng đá rất hay, mọi nhẽ.

Ai có mặt tại sân vận động cũng phải ăn mặc tử tế, đi đứng nghiêm chỉnh, và phải vỗ tay luôn luôn, vì hôm ấy có nhiều quan khách.

Làng Ngũ Vọng lại phải có năm lá cờ, sẵn sàng từ 10 giờ sáng.


Ngày 17 tháng 10 năm 2010


Tinh thần thể dục

Tinh thần thể dục (Trích Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan)

                                                                Tặng bạn Thục Nga

Quan tri huyện huyện X.X.
Sức hương lý xã Ngũ Vọng tuân cử.
Nay thừa lệnh Tỉnh đường, ngày 19 Mars này, tức 29 tháng Giêng An Nam, tại sân vận động huyện có cuộc đá bóng thi, nhiều chiến tướng đá rất hay, mọi nhẽ.Vậy sức các thầy phải thông báo cho dân làng biết và phải thân dẫn đủ một trăm người, đúng 12 giờ trưa đến xem, không được khiếm diện.
Những người đã cắt đi dự cuộc khánh thành sân thể dục tháng trước, thì lần này được miễn.
Ai có mặt tại sân vận động cũng phải ăn mặc tử tế, đi đứng nghiêm chỉnh, và phải vỗ tay luôn luôn, vì hôm ấy có nhiều quan khách.Làng Ngũ Vọng lại phải có năm lá cờ, sẵn sàng từ 10 giờ sáng.
Việc này tuy là việc thể dục, nhưng các thầy không được coi thường, nếu không tuân lệnh sẽ bị cữụ
Nay sức
Lê Thăng





Wednesday, October 13, 2010

Đọc bài của KTS Hoàng Đạo Kính ... nhớ Biệt Thự Hà nội

Thân phận biệt thự Hà Nội
Biệt thự nhắc tới ở đây là villa thời Pháp thuộc



GS-TS-KTS Hoàng Đạo Kính

Giữa các thể loại kiến trúc, nhà ở thân phận hơn cả. Thân phận bởi trú ngụ nơi đó những kiếp người. Giữa những thể loại nhà ở, biệt thự thân phận hơn cả. Thân phận bởi những biến đổi thời cuộc va đập vào, dữ dội và sâu xa hơn cả. Giữa những biệt thự Huế, Sài Gòn, Đà Lạt và những đô thị khác, biệt thự Hà Nội thân phận hơn cả.
Mỹ miều
Ở Hà Nội, những năm 80 thế kỷ XIX, thực dân xây dựng đồn binh và trại lính tại khu nhượng địa. Nay sót lại vài ba cái - nhà gạch 2 tầng, dưới bỏ trống để tránh ẩm thấp, tầng trên gồm những gian phòng có hiên bao quanh, cốt là dể tránh nắng hắt và mưa táp. Muộn hơn, xuất hiện những villa, thoạt đầu ở phía Nam hồ Hoàn Kiếm. Từ thập niên thứ hai thế kỷ trước, hình thành những đường phố, những ô phố, những xóm và khu biệt thự. Những năm 30 đầu 40, người ta còn tổ chức bình chọn mẫu biệt thự đẹp nhất Hà Nội. Lần cuối villa trong vườn ở góc phố Điện Biên Phủ và Lê Hồng Phong, được công nhận là đẹp nhất.
Biệt thự thường đặt trong khuôn viên chia lô, dọc các con phố có vỉa hè và những rặng cây trồng thẳng hàng và đều đặn, thuộc một chủng loại. Chúng hầu hết là những ngôi nhà gạch 2-3 tầng, to tát so với nhà ở của người bản địa thời đó, song lại khiêm nhường so với biệt thự của người mình thời nay. Tầng sát đất không cao và để trống. Lối lên đường bệ dẫn tới sảnh, phòng salon, phòng ăn, các phòng ngủ, phòng tắm và vệ sinh. Biệt thự nào cũng có mái hiên hoặc ban công. Nhiều khi có cả véranda - không gian 3 phía không có vách, mà chỉ ngăn bằng lan can hoa sắt hoặc con tiện. Lác đác bắt gặp những lan can đúc gang uốn cong hình bụng chửa - đấy là tàn dư của những lan can ban công thời trung cổ châu Âu, tiện cho những tiểu thư váy xòe đứng ngắm phố và ngóng trai. Hãn hữu bắt gặp những cái mézonine - khoảng không gian đặt nhô ra một bên nhà, có mái che và có vách kính bao. Đó là nơi sinh hoạt lưng chừng giữa nơi tiếp khách và nơi ngủ, là thành phần không thể thiếu ở các biệt thự Bắc Âu. Đà Lạt có nhiều villa với mézonine. Thời nay, do thiếu diện tích, đem bít lại. Biệt thự có mézonine như con mắt nhòm ra những sườn đồi thoai thoải, nay trở nên mù lòa.
Người Tây du nhập kiến trúc nhà gạch nhiều tầng, với những bức tường dày xây gạch chịu lực, mát về mùa hạ và ấm về mùa đông. Sàn nhà cấu tạo bằng dầm sắt và vòm cuốn gạch, trước khi xuất hiện bê tông cốt thép vào những năm 30. Cửa sổ lắp kính, bên ngoài thêm cửa chớp. Mái dốc lợp ngói Tây, họa hoằn lợp ngói đá ardoise. Mái thường được khuếch trương, cả về độ lớn và sự biến hoá. Chúng là thành phần đặc sắc của biệt thự Hà Nội. Ngôi nhà mái dốc chóp thẳng đứng lợp ngói ardoise ở giữa phố Quán Thánh, nhìn cứ tưởng như cái bóng chưa tan thời trung cổ Bắc Âu. Còn villa ở góc phố Lê Hồng Phong và Khúc Hạo, có hệ mái ngói y hệt bản hòa tấu kỳ lạ của những cái chóp có độ dốc khác nhau. Hình như trong một lần tu sửa mới đây, ai đó đã “giản tiện hóa” cái sự bị cho là rối rắm ấy. Cách nay chắc đã hai thập niên, nhiều người Hà Nội giàu nhanh cũng gắng dựng lên những cái chóp trên những biệt thự - lâu đài đồ sộ của mình. Xem ra, cái gì cũng có thời của nó. Những mái ngói vươn ra thường tì đỡ vào những hệ con sơn gỗ, trang sức duyên dáng cho những villa Hà Nội. Ở phố Nguyễn Biểu, biệt thự số 17 và 18, chắc thuộc sở hữu của người Việt, có những hệ con sơn đỡ mái nhà và mái hiên, cầu kỳ và tinh tế đến mức ta quên đi cái sự chúng đơn thuần là cấu trúc tỳ đỡ. Còn ở ngã tư Bà Triệu và Nguyễn Du, thỉnh thoảng bị úng ngập của Hà Nội cũ, có ngôi biệt thự một tầng, mái ngói rõ lớn và rõ nặng, che úp lên cái thân thấp lùn của nó. Ấy mà, những con sơn đỡ mái hiên lại diêm dúa đến thế. Nay cụ biệt thự lùn đã bị phá bỏ đến hai phần ba. Dưới mái nhà tàn phế ấy, hình như người họa sĩ không chịu già Ngọc Linh chưa nỡ bỏ đi ...
Cùng với kiến trúc biệt thự, người Tây du nhập kỹ thuật và thiết bị tiện nghi: nước máy, quạt máy, bồn tắm và vòi hoa sen, lavabo cùng vòi rubine, chậu rửa bide, xí bệt v.v.. Nhờ thế mà chu trình sống trong không gian ở khép lại. Dân ta dần dà làm chủ mô hình ăn ở tiện lợi ấy.
Trong khoảng thời gian 50 năm, kiến trúc biệt thự Hà Nội đã kịp phát triển về không gian, loại hình, số lượng, kiểu cách, sự khác biệt giàu và sang, tiến hoá theo các trào lưu quốc tế và, đặc biệt, theo chiều hướng địa phương hóa. Thoạt đầu, người Tây du nhập kiểu biệt thự có phong cách hậu cổ điển vào Sài Gòn và Hà Nội. Một giai đoạn dài hơn, họ du nhập các kiểu dáng biệt thự từ các địa phương của nước Pháp, với những biến hóa cho hợp với đất trời bản địa. Tôi gọi những kiểu cách kiến trúc biệt thự thời kỳ này là nostalgique - hoài hương, vọng quê. Từ cuối những năm 20 và nhất là từ những năm 30, kiến trúc biệt thự phát triển theo hai chiều hướng. Modernisme với việc sử dụng vật liệu bêtông cốt thép, mái bằng và sự giản tiện trang trí. Chiều hướng thứ hai, kết hợp thẩm mỹ Đông - Tây cùng sự khai thác theo chiều sâu những đặc trưng của xứ nhiệt đới nóng - ẩm, lấy đó làm điểm tựa cho một phong cách kiên trúc riêng biệt.
Cùng với thể loại biệt thự trong các khuôn viên phân lô đa phần thuộc sở hữu người Tây, ở Hà Nội sớm định hình dạng biệt thự liền kề, chủ yếu do người Việt thuộc giai tầng trung lưu sở hữu. Các phố Bùi Thị Xuân, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế, Quán Thánh, Nguyễn Trường Tộ, Hàng Than v.v.. đã từng xây kín bởi những căn biệt thự kiểu ấy. Nhà nghiên cứu đô thị người Pháp Christian Pédelahore de Loddis, người hiểu biết bản chất kiến trúc Hà Nội cực kỳ tinh tế, cho rằng kiểu biệt thự này là sự phát triển tiếp nối mô hình nhà ống ở khu phố cổ.
Biệt thự thời Pháp chẳng những là nét đẹp và nét sang trong quỹ kiến trúc đô thị Hà Nội, chúng còn thôi thúc người mình hôm nay sao chép và biến hóa không biết nhàm chán, làm nảy sinh chủ nghĩa hình thức, khá vô duyên trong công cuộc phát triển nền kiến trúc Việt Nam, lẽ ra phải đuổi bám thời đại. Có lẽ bởi villa thời xưa là nơi sống tiện lợi và thanh thản, đẹp nhã và đẹp bền, sang mà không phô diễn, văn hóa chính là ở sự chừng mực... Học hỏi kiến trúc villa, chính là những tinh hoa ấy.
bắt nguồn từ màu những viên sa thạch, mà người Pháp ưa ốp mặt nhà ở thành thị và thôn quê. Nay ta sơn phủ công sở và nhà ở bằng gam màu cũng vàng, song lại là vàng đậm và gắt. Thời Tây, hễ Hà Nội có dịch thương hàn là người ta cắm những lá cờ hình tam giác màu ấy.

Biến đổi
Từ năm 1954, với villa Hà Nội, thời cuộc đã đưa tới những biến đổi gốc rễ. Những biến đổi liên quan trước hết đến quyền sở hữu. Tiếp theo là về sử dụng. Cả hai đều gây hệ lụy, ngày càng sâu xa.
Những chủ sở hữu cũ hầu hết đã ra đi. Một số ít lưu lại, song đã vào những vai khác. Các biệt thự sang trọng dùng cho các cơ quan ngoại giao. Các biệt thự lớn đem dùng cho các công sở. Một số lượng khá lớn trao cho các gia đình cán bộ cao cấp, có tiêu chuẩn tương ứng cả về ở, ăn lẫn xe cộ. Dòng người từ miền ngược và thôn quê ồ ạt chuyển về thủ đô, tạo ra làn sóng di dân lần thứ nhất - bộ đội, cán bộ, nhân viên và công nhân. Họ được sắp xếp vào ở những căn nhà có diện tích dôi ra do sự “nhũn nhặn” vốn dĩ của chủ nhân - người Hà Nội gốc. Nhà vẫn thiếu, họ được phân chỗ ở, trong các ngôi biệt thự, chưa bao giờ thiết kế cho sự chung sống tập thể, cho những ai chưa từng ở nhà Tây.
Dạng di dân và cư trú tương tự ta có thể thấy ở những thành phố Nga sau năm 1917. Người Nga gọi cộc lốc là “côm-mu-nál-ca”, nhà ở chung, nơi sống chung đụng.
Villa Hà Nội trong những hoàn cảnh lịch sử, nên được nhìn nhận khách quan, khó bề tránh khỏi sự xuống cấp kỹ thuật, biến dạng kiến trúc, sa sút thẩm mỹ. May mắn hơn cả là những biệt thự do các cơ quan ngoại giao nước ngoài sử dụng. Chủ hầu hết là người Tây, họ hiểu biết và có điều kiện duy trì, do đó biệt thự chẳng những không tàn phai, mà lại còn ngời sáng.
Những tòa biệt thự biến thành công sở biến dạng và xuống cấp do chúng chưa hề được thiết kế làm nơi ra vào của đám đông, do bị thờ ơ bởi cái lẽ chúng chẳng phải là của riêng ai. Dạo chiến tranh, cơ quan sơ tán, các hộ nhân viên đổ bộ nhẹ nhàng vào, biến biệt thự công sở thành nơi ở hơn là nơi làm việc, với tất cả những hệ luỵ dai dẳng. Ở tạm mà hóa ra ở lỳ.
Biệt thự dành cho gia đình cán bộ cao cấp có số phận chẳng may mắn hơn là bao. Một thời gian dài, tuy là cao cấp, song họ vẫn nghèo. Con cái lấy vợ gả chồng, mỗi đôi một buồng. Thiếu chỗ, cơi nới và xây quanh hàng rào. Sau này, nhà nước thanh lý theo giá “tượng trưng”, con cháu đem bán nhà mà thực ra là bán đất.
Thân phận hơn cả là những biệt thự bị biến thành nhà tập thể, mỗi gia đình một buồng, buồng tắm cho hộ ít người. Mọi tiện nghi cũ dẹp đi. Trong sân xuất hiện nhà vệ sinh công cộng, bể nước công cộng, nhà tắm công cộng, chuồng lợn, chuồng gà... Nhu cầu sử dụng gia tăng, ai ở tầng một thì bành trướng ra sân, ai ở tầng trên thì bành trướng lên trời. Hết chỗ, thì làm nhà tạm bợ dọc hàng rào. Biệt thự bị xâm thực từ trong ra, từ ngoài vào và từ trên xuống. Chúng trở thành tổ người, biến dạng đến nỗi, ai muốn phục dựng hình hài cũ, phải dụng đến công cụ mổ xẻ kết hợp với tài phán đoán của nhà khảo cổ học.
... Trong xóm Hạ Hồi, nguyên là xóm biệt thự êm đềm, hiện hữu một cái nhà nguyên là biệt thự. Nguyên, bởi nó đã bị nuốt chửng bởi những sáng tạo kiến trúc, phát sinh từ những sự bất đắc dĩ kéo dài hàng chục năm ròng, với vô số những cuộc thập tự chinh, những va chạm và những cuộc họp hòa giải. Trong gian phòng rộng chừng 20m2, ông kỹ sư và bà bác sĩ tuổi quá 70 vẫn ôm ấp những kỷ niệm một đời người. Ông bà ôm hôn nhau lần đầu ở đây, làm lễ thành hôn, trở thành cha mẹ, rồi ông bà nội ngoại cũng ở đây. Tổ ấm - một phòng của họ đầy ắp những vật dụng, chẳng nỡ vứt, toàn là những kỷ niệm một đời con kiến tha lâu đầy tổ. Ngay ở căn phòng phía sau, ngăn cách bởi cửa kính và những cái tủ kê cho khuất mắt, tá túc một gia đình ba thế hệ, già nua và trưởng thành cả rồi, mà chẳng ai ăn nên làm ra. Sự cáu gắt và to tiếng là lẽ bình thường. Chỉ khổ hàng xóm, họ quên đứt đi cái việc điều tiết volume. Trên gác, trong căn phòng nguyên là vệ sinh, nguyên là chỗ ở của một họa sĩ có danh, những bức tranh dở dang và những pho tượng thạch cao chồng chất, đã lâu chưa thấy ai đoái hoài. Trên cái véranda, lợp tôn và bao che bởi tường gạch không trát, vài chục năm nay cư ngụ ông nhạc công kèn đồng. Sáng sáng, ông dóng vào không trung trích đoạn ouvertures của Richard Wagner. Ông nói, cho nó oai phong lẫm liệt... Trong sân, hai dãy nhà tạm bợ tuổi đã 30, ẩm ướt và tăm tối, bà bánh cuốn, ông cháo lòng tiết canh cùng mấy bác từ mãi đâu đâu, chui rúc. Trên tầng hai, trong hai căn buồng nhỏ, vẫn còn đấy con cháu những người chủ cũ. Ai đến chơi, là một dịp họ nhắc về cái sự sở hữu một thời. Và thở dài…
Không nơi nào nhiều biệt thự đẹp, quý và thân phận như Hà Nội của tôi. Trong mắt người này biệt thự Hà Nội là di sản quý hiếm. Trong mắt người kia biệt thự Hà Nội là ứ tồn đô thị. Ai đó lại nhìn thấu giá trị mảnh đất, nơi chúng tọa lạc. Còn những người Hà Nội cũ, chậm chạp và nhũn nhặn, thì biệt thự đã là hoài niệm.
Theo Người Đô Thị số 82