Sunday, January 27, 2013

Ngày trở về ...

Hà Minh


Ngày trở về 
anh bước lê, trên quãng đường đê, 
đến bên lũy tre, nắng vàng hoe, 
vườn dâu trước hè cười đón người về… 


("Ngày trở về" - Phạm Duy)


Người hát rong thế kỷ nay đã trở về nhà. Ra đi từ phố Hàng Dầu ngay Bờ Hồ, Hà Nội, gót chân ông đã chu du khắp các nẻo đường đất nước: từ Hà Nội ông đi Hải Phòng, Móng Cái, Quảng Ninh, vào Nam trong gánh hát Charlot Miều, rồi lại ra Bắc, ông đi kháng chiến, về chợ Đại Cống Thần, lên Việt Bắc, rồi "dinh tê" cùng vợ qua một chặng đường đầy gian khổ để về Hà Nội, rồi năm 54, ông bỏ lại "mồ mả cha ông" theo dòng người di cư vào Nam cùng nhiều văn nghệ sĩ như Lê Thương, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng, Tạ Tỵ, v.v. Hai mươi mốt năm sau, biến cố 30-4-75 một lần nữa đẩy ông cùng gia đình gạt nước mắt lên "thuyền viễn xứ" trôi dạt về miền đất tự do nhưng xa lạ. Rồi ba mươi năm sau nữa, những tiếng thì thầm của cố hương "Về thôi, Về thôi! Làm gì có trăm năm mà đợi? Làm gì có kiếp sau mà chờ?" đã gọi ông trở về, như cánh chim thiên di phiêu bạt nay tìm về mảnh đất cội nguồn. Xung quanh cuộc trở về này của ông có nhiều ý kiến ngược chiều, phức tạp. Với tình cảm của một người sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn, nguyên nhân của sự ly tán của rất nhiều người Việt khắp chân trời góc bể, tôi chịu nhiều ảnh hưởng của những tình khúc Phạm Duy, vì vậy xin được tản mạn đôi chút về ngày trở về của Người hát rong thế kỷ, Người tình già trên đầu non, Cây đại thụ của nền tân nhạc Việt nam. 

Ngày trở về lần này của ông vui lắm, có hàng trăm người hâm mộ chờ đón ông, có biểu ngữ, băng-rôn in hình ông và dòng chữ "Welcome back home", những bàn tay vẫy những bó hoa tươi, các con ông và bè bạn. Trong bữa cơm trưa có cả cái nóng ẩm hừng hực của Sài Gòn, có bát canh mướp mồng tơi và đặc biệt có thêm cả đám phóng viên săn hình săn ảnh cả lúc ông ăn cơm [1] . Cái cảnh đoàn viên đương nhiên đã xảy ra như trong mơ… ánh mắt trong ánh mắt, tiếng cười trong tiếng cười ở nơi Đất Mẹ, Đất Nàng. Thực là một hình ảnh cảm động và tiền bạc chắc chắn không mua được những khoảnh khắc hạnh phúc như thế. Tôi thấy ông thực giống như Hạ Tri Chương trong hai áng thơ Đường trác tuyệt sau đây: 


Hồi hương ngẫu thư – Kỳ nhất 

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi 
Hương âm vô cải mấn mao tồi 
Nhi đồng tương kiến bất tương thức 
Tiếu vấn khách tùng hà xứ lai 
Hạ Tri Chương 

Ngẫu nhiên khi về quê (Bài một) 

Còn trẻ ra đi, lão mới về 
Tóc thưa cằn cỗi, tiếng còn quê 
Trẻ con trông thấy mà không biết 
Cười hỏi "Khách từ mô đến tê?" 
(Bản dịch của Hải Đà Vương Ngọc Long [2] )

Nhạc sĩ Phạm Duy đã vào những nốt cuối của cung "bát độ" (octave) cuộc đời như Hạ Tri Chương, xa nhà lâu hơn cụ Hạ và phiêu bạt giang hồ cũng hơn cụ Hạ, cho nên tình cảm của ông chắc chắn phải dạt dào hkhông kém. Bài thơ thứ hai tôi xin trích sau đây cũng thể hiện đúng tình cảm và hoàn cảnh trở về của ông: 


Hồi hương ngẫu thư (Kỳ nhị) 

Ly biệt gia hương tuế, nguyệt đa 
Cận lai nhân sự bán tiêu ma 
Duy hữu môn tiền kinh hồ thủy 
Xuân phong bất cải cựu thời ba 
Hạ Tri Chương 

Ngẫu nhiên khi về quê (Bài hai) 

Năm tháng xa nhà chắc đã lâu 
Bạn bè mất nửa, nửa về đâu 
Hồ gương trước cửa lung linh nước 
Gió chẳng làm thay gợn sóng sầu 

(Bản dịch của Hải Đà Vương Ngọc Long)

Những đêm họp mặt những người bạn tri kỷ từ thời "Cách mạng kháng chiến" như nhà thơ Hoàng Cầm, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, nhạc sĩ Trần Văn Khê, ca sĩ Ngọc Bảo… thật là cảm động, những người bạn cố tri của ông như nhà thơ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Văn Cao, họa sĩ Bùi Xuân Phái… nay cũng chẳng còn, có chăng ông chỉ còn gặp hậu duệ của họ mà thôi. Người nghệ sĩ tự do nay đã trở về, đứa con xưa đã tìm về nhà, tuy rằng nhà ông ở phố Hàng Dầu nay đã chỉ còn là hoài niệm. 

Cuộc đời Phạm Duy đầy ắp những sự kiện, ông là chứng nhân của những biến động lớn lao nhất ở Việt Nam xuyên suốt qua hai thế kỷ, ông tham dự và có mặt vào hầu hết những biến cố lịch sử của đất nước và tiến trình hình thành nền tân nhạc Việt Nam, ông là người bạn của những văn nghệ sĩ hàng đầu của Việt Nam trên các lĩnh vực văn, thơ, nhạc, họa, kịch, như Văn Cao, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Nguyễn Văn Tý, Tạ Tỵ, Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái và rất nhiều người khác, do vậy ông cũng gián tiếp tham dự vào tiến trình phát triển của những lĩnh vực văn học nghệ thuật này. 

Trong Hồi ký Phạm Duy, Phần một: "Thời thơ ấu vào đời", ông viết về thời thơ ấu của ông ở Hà Nội rất hay và rất sinh động bằng giọng văn kể chuyện rất trong sáng, giản dị. Bản chất của ông là thích lãng du, ông không chịu ngồi lâu một chỗ bao giờ, con người rất ưa "xê dịch" phóng khoáng này đã từng nhận mình là: 


Ma cà bông (vagabond) mà cà cúi 
Lúi húi vườn hoa 
Ông Tây bắt được hỏi nhà mày đâu? 
Nhà tôi ở Phố Hàng Dầu 
Số nhà 54, đứng đầu... du côn! 

Đọc những trang hồi ký về thời thơ ấu của ông, tôi bồi hồi xúc động nhớ về những con phố thân yêu của Hà Nội, nơi mình sinh ra và lớn lên, do điều kiện mưu sinh, mình không còn được ở lại nơi đó nữa nhưng những tình cảm với nơi chôn rau cắt rốn vẫn còn đầy ắp. Phải nói rằng ông chẳng những là nhạc sĩ tài hoa mà còn là một nhà văn rất "tài tử". Và việc ông trở về cố hương đối với tôi là một hình ảnh đẹp, rất đẹp: hình ảnh của một ông già "tóc bạc phơ phơ" thong thả dạo bước quanh Hồ Gươm liễu rủ, bồi hồi nhớ về thời niên thiếu của mình. Ông đã từng ở phố Lò Đúc một thời gian, tôi cũng đã từng sinh ra và lớn lên ở đó, phố Lò Đúc của những hàng cây sao, cây xà cừ cao vút, nơi một thời cò về đậu trắng ngọn cây, cho nên phố tôi đã từng được mệnh danh là "bang cò ỉa" và có những biệt thự hai tầng kiểu dáng thuộc địa đẹp như Đà Lạt ngày xưa. Tôi yêu Hà Nội qua những trang viết của Thạch Lam [3] , của Vũ Bằng [4] , của Tô Hoài [5] , của Nguyễn Công Hoan [6] , của Chu Thiên [7] ,của Nguyễn Tuân, của Quang Dũng, Ngô Quân Miện, Trần Lê Văn [8] , của Nguyễn Huy Thiệp [9] , và tôi càng yêu Hà Nội qua nét bút tài hoa tài tử của Phạm Duy [10] . Tôi yêu những bài thơ, những ca khúc trữ tình trước đây và sau này viết về Hà Nội như bài thơ "Nhớ về Hà Nội" của Tạ Tỵ, "Hướng về Hà Nội" của Hoàng Dương rất thướt tha tiểu tư sản, những ca khúc lãng mạn say đắm lòng người của Đoàn Chuẩn, Từ Linh, "Người Hà Nội" của Nguyễn Đình Thi, "Em ơi Hà Nội phố" thơ của Phan Vũ được Phú Quang phổ nhạc, rồi… sau này lại có "Một thoáng Tây Hồ" của Phó Đức Phương hay "Mùa thu Hà Nội" của Trịnh Công Sơn, "Hà Nội đêm trở gió", "Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa", v.v. và chắc chắn còn rất nhiều tác phẩm tuyệt vời về Hà Nội mà tôi không thể kể ra hết ở đây. Tôi là một kẻ vô danh còn có những tình cảm thiết tha với quê hương như thế thì một tâm hồn lớn như ông: tác giả của tình ca bất hủ "Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời" làm sao không khắc khoải nhớ cố hương cho được. 

Vậy tại sao ông về nước lại làm nhiều người không vui? Ông ra đi, website phamduy.com đã ngừng hoạt động "cái rụp", chỉ còn lại hai chữ good bye !!! còn đó nỗi buồn [11] một nỗi buồn da diết cho những người còn ở xa quê đã từng yêu mến ông, tình cảm này cũng chả có gì khó hiểu. Họ cảm thấy dường như họ đã mất ông, hoặc như bị ông bỏ rơi. Là người yêu Phạm Duy, ta vẫn có thể tìm thấy một "mirror" của website phamduy.com vẫn còn truy nhập được, đó là: http://kicon.com/phamduy/. Chỉ sợ rằng nếu website này hoạt động không được sự cho phép của ông thì tôi sẽ rất buồn nếu một ngày nào đó ông hoặc các con ông ra lệnh "đóng cửa" nó. Ông đã chia tay bạn bè thân hữu còn ở lại và nói với họ rằng: Nếu quý vị hát nhạc tôi thì tôi vẫn còn chứ! Nhưng từ bây giờ họ biết tìm nhạc của ông ở đâu: tìm đâu những ngày xinh như mộng? tìm đâu? biết tìm đâu? đâu rồi?. Những bạn bè và người yêu mến ông còn ở lại miền đất tạm dung đã tiễn ông về "miền quá khứ" như lời bài hát của chính ông: 


Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi 
Còn gì đâu nữa mà khóc với cười 
Mời người lên xe về miền quá khứ 
Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu 
Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt mầu 
Sẽ có chẳng nhiều đớn đau 

Tôi rất thấm thía và chia sẻ những "đớn đau" ấy. Về những câu trả lời của ông trên báo chí trong nước: nhiều người phản ứng bực bội cho rằng ông "ồn ào", v.v. Theo tôi nghĩ, qua "lăng kính" của báo chí mọi chuyện đều có thể bị "méo mó" đi không nhiều thì ít theo một dụng ý nhất định của người viết. Ta không nên ngây thơ để lại bị rơi vào một sự hiểu lầm tai hại về ông. Ông về nước với một tâm thế thanh thoát, rũ bỏ những mặc cảm còn đeo bám ông suốt ba mươi năm. Mặc cảm và những sự mất mát của ông cũng không phải nhỏ khi phải từ bỏ hết để di tản khỏi Sài Gòn. Vậy mà ông đã vượt qua được những mặc cảm ấy. Điều này chỉ những nhân cách lớn mới làm được [12] . Phía trong nước đã chìa bàn tay với các con ông. Nếu ông có nói tốt cho chế độ thì cũng là lẽ thường vì họ đã tạo điều kiện cho các con ông trở lại sân khấu và hoạt động biểu diễn, và ông đã nói thẳng ra rằng: Giữa một vài triệu người với 80 triệu người, anh chọn ai? Xét về mặt nào đó ông đã tỏ ra thức thời, ít nhất cho sự nghiệp ca nhạc của gia đình ông, ông đã có một lựa chọn dứt khoát. "Cá chuối đắm đuối vì con". Về phía chính quyền, họ cũng đã đi được một nước cờ hay: đã thu phục bộ ba "xe, pháo, mã" gồm một "binh", một "nhạc", một "tăng" để tô điểm thêm cho tiến trình "đổi mới toàn diện".

Tôi cầu chúc cho cuộc trở về của nhạc sĩ Phạm Duy là một câu chuyện cổ tích kết thúc có hậu. Cầu mong cho ông có những ngày êm đẹp tại quê hương, tiếp tục cống hiến phần đời còn lại của ông cho quê hương xứ sở, cũng như các con cháu ông được tiếp tục phát huy tài năng để phục vụ đồng bào ở tại quê nhà. 

Nghìn trùng xa cách người cuối chân trời 
Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người. 

© 2005 

==============================
[1]http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=79085&ChannelID=58
[2]http://www.vuonghaida.com/VAN/HoiHuongNgauThu.htm 
Hạ Tri Chương tự Quý Chân, người quê Vĩnh Hưng thuộc Việt Châu (nay là Hợp Phố tỉnh Quảng Đông). Ông đỗ Tiến sĩ đời Vũ Hậu, làm quan đến chức Bí thư giám. Ông mất năm 86 tuổi. Thơ văn của ông phần nhiều phục vụ cung đình. Có một số ít bài thơ xuất sắc phải kể đến là hai bài "Hồi hương ngẫu thư" của ông sáng tác khi từ quan về quê thăm nhà sau hơn năm mươi năm xa cách. Ông đã từ giã quê hương ra đi để mưu tìm công danh sự nghiệp vào những năm còn trai trẻ, và qua bao nhiêu thăng trầm dâu bể của cuộc đời, bây giờ tóc đã rụng thưa, phơ phơ sương điểm, nhưng giọng nói quê cũ của ông vẫn chẳng bao giờ đổi thay, đã chứng tỏ tình cảm của ông vẫn luôn còn gắn bó tha thiết với quê hương cố quận, cho dù sống tha phương ngàn trùng xa cách, tận chân trời góc bể nào. (Trích từ website:http://www.vuonghaida.com/VAN/HoiHuongNgauThu.htm) 
[3]Thạch Lam: Hà nội ba mươi sáu phố phường
[4]Vũ Bằng: Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội và Bốn mươi năm nói láo
[5]Tô Hoài: Giăng thề, O chuột, Quê người, Cát bụi chân ai
[6]Nguyễn Công Hoan: Đống rác cũ
[7]Chu Thiên: Bóng nước Hồ Gươm
[8]Quang Dũng, Ngô Quân Miện, Trần Lê Văn: Bút ký Gương mặt Hồ Tây
[9]Nguyễn Huy Thiệp: Tuổi hai mươi yêu dấu
[10]Phạm Duy: Hồi ký, Thời thơ ấu vào đời.
[11]Tạ Tỵ: "Phạm Duy còn đó nỗi buồn"
[12]Cũng giống như những mất mát của nhóm Nhân văn-Giai phẩm: Văn Cao, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Phùng Quán, Trần Dần…, của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Cuối đời họ đã được "phục hồi danh dự". Có lần tình cờ tôi được biết nhà văn kiêm họa sĩ Trần Duy có một bức tranh rất lớn "tặng" Bộ Nội vụ để treo tại Nhà khách của Bộ ở phố Trần Bình Trọng, nơi đã ra lệnh quản thúc ông suốt thời Nhân văn-Giai phẩm. Đúng là những nhân cách lớn.


Trả lời của Phạm Duy cho bài viết này

Trả lời của Phạm Duy cho bài viết này


Phạm Duy

Tôi trở về nước tôi, sao có người không vui?

 

Trên talawas lại có một bài viết về tôi. Tác giả Hà Minh đã dùng một khúc trong bài "Ngày trở về" để mở đầu cho bài viết của ông về việc tôi qui cố hương. Một nhà văn rất yêu bài hát nàykhen tôi diễn tả đầy đủ bước chân lê trên quãng đường đê của người trở về, phải đến lũy tre xanh rồi mới qua được vườn rau để vào cổng nhà. (Hà Minh viết là vườn dâu, nhưng là vườn rau thì nó thân mật hơn). Rồi mới gặp được mẹ, lần mò ra trước ao, nắm áo người xưa… Tôi tả khung cảnh miền quê rồi mới tả tới tấm lòng người miền quê, tấm lòng của người ra đi nhớ nhung quê mình và tới ngày trở về, thì chỉ ngồi chờ sáng mai trở dậy, là lại khởi sự ra đồng cầy cấy.


Người về làm mẹ vui, dù đôi mắt mẹ đã lòa vì quá đợi chờ, nhưng tại sao, như Hà Minh nói, tôi về lại làm cho nhiều người không vui? Hà Minh kể: cụ Hạ Tri Chương bên Tầu xưa kia, khi trở về, bị lũ trẻ con trông thấy mà không biết, cười hỏi: khách từ mô đến tê?... thì tôi cũng lâm vào cảnh đó, dù báo giấy, báo điện tử, báo hình, báo tiếng đưa tin khá nhiều về một người vốn dĩ luôn luôn sống với nhịp điệu "ồn ào". Trẻ con không biết Hạ Tri Chương hay Phạm Duy là ai là chuyện thông thường, còn người lớn?


Ông Hà Minh ơi! Nếu cần tính sổ vui buồn về chuyện trở về của tôi thì những bài viết vui của các ông Hoàng Cầm, Nguyễn Thụy Kha, Trần Công Tạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trịnh Cung, Nguyễn Văn Tý, Nguyễn Thủy Minh, Nguyễn Hoàng Linh, Phạm Quang Tuấn, Đỗ Trung Quân… có vẻ nhiều hơn hai bài viết quá buồn của ông Trần Bích San hay buồn vừa vừa của ông Lê Anh Dũng. Tiện đây, cho tôi xin được tỏ lòng biết ơn tất cả.


Tôi phải đa tạ Hà tiên sinh vì ông kể chuyện giang hồ của tôi gần giống như kể truyện cổ tích, nhưng chuyện tôi ra đi từ phố Hàng Dầu, Hà Nội, tới khắp các nẻo đường đất nước, rồi miệt mài đi trên khắp các kinh đô trên thế giới có gì là lạ thường đâu? Nó chỉ là kết quả của sự phân tán của rất nhiều người trong một thế kỷ ly loạn. Rồi phải có ngày, theo quy luật (ra đi nào cũng có trở về), đúng thời điểm, tôi có trở về cố hương thì việc này cũng lại rất bình thường như việc trở về của Hạ Tri Phương bên Tầu hay như của Stravinski, Solzhenitsyn bên Nga mà thôi!


Vậy thì chỉ còn lại chuyện một số người ở hải ngoại mà Hà Minh cho rằng họ không được vui, vì họ cảm thấy dường như họ đã mất tôi, hoặc bị tôi bỏ rơi, dù tôi đã nói với họ rằng: Nếu quý vị hát nhạc tôi thì tôi vẫn còn chứ ! Hà quân nên nói thêm rằng họ không được vui có thể chỉ vì bức tường Berlin trong lòng của họ chưa bị đánh đổ.


Hà Minh viết: Phạm Duy về nước với một tâm thế thanh thoát, rũ bỏ tất cả những mặc cảm… Vì sao vậy? Vì ông đã biết rằng trong suốt một đời, qua những bài như Con đường cái quan và sau đó là "Mẹ Việt Nam", "Tình ca quê hương", "Tâm ca", "Bình ca", "Bầy chim bỏ xứ" và "Hồi xứ"… tôi là người nghệ sĩ lúc nào cũng chỉ khăng khăng xưng tụng sự đoàn kết dân tộc. Ngay từ khi xẩy ra sự chia đôi đất nước do Hiệp định Genève 1954, tôi đã phản đối sự chia cắt này bằng một trường ca rồi. Những trường ca, tâm ca, bình ca sau đó cũng chỉ là sự tiếp tục hàn gắn những vết thương, xoa dịu những mâu thuẫn, nối lại những cách chia…


Từ 1954 cho tới 2005 vỏn vẹn là 50 năm. Ai cũng đã thấy rằng rồi thì theo với thời gian, hòa bình đã phải có ở Việt Nam, nhưng quả thật là chưa có giải hòa. Bởi thế cho nên mới có chuyện vì cụm chữ hòa hợp hòa giải mà một trong những người đề xướng bị đánh ở Holland năm nào.


Riêng tôi thì phải đợi tới khi có dấu hiệu tốt là một nghị quyết dành cho người ra đi và trở về thì tôi không cần phải dùng tới nhạc giao hòa để hòa hợp dân tộc mà đem thân xác mình ra để đóng góp vào việc hòa giải dân tộc. Có thể cũng như một vị tướng, một vị tăng nào đó chăng? Đó là lời tôi đã tâm sự với Giao Chỉ Vũ Văn Lộc từ lâu mà ông này chưa muốn bật mí qua website của ông. Nay tôi xin báo cáo.


Hà quân nhận thấy Phạm Duy về nước với một tâm thế thanh thoát, rũ bỏ tất cả những mặc cảm… Vậy thì ông sẽ thấy tôi không "ke" (care) cái loại người buồn giận không nguôi này, thường thường chỉ mượn cớ chống cái này, cái nọ để nuôi dưỡng cái thú đau thương của họ.


Lại phải xin được nhắc lại môt câu ca cũ rích: Đường ta, ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây…

Sài Gòn, 19.6. 2005


© 2005 talawas




Về trong phố xưa tôi nằm ...


Về trong phố xưa tôi nằm
Có lần nghe tiếng ru bên vườn
Chợt như xác thân không còn
Và cạnh tôi là đồng vắng

Về trên phố cao nguyên ngồi
Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi
Chợt như phố kia không người
Còn lại tôi bước hoài

Lòng ta có khi tựa như vắng ai
Nhiều khi đã vui cười
Nhiều khi đứng riêng ngoài
Nhiều đêm muốn đi về con phố xa
Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà
Giòng sông trước kia tôi về
Bỗng giờ đây đã khô không ngờ
Lòng tôi có khi mơ hồ
Tưởng mình đang là cơn gió

Về chân núi thăm nấm mồ
Giữa đường trưa có tôi bơ phờ
Chợt tôi thấy thiên thu là
Một đường không bến bờ


Tuesday, January 22, 2013

Mất chim



Ông bị trộm thó mất con yểng. Ông tiếc lắm. Từ ngày về hưu ông chỉ có nó là bạn. Ông đạp xe lùng sục khắp các chợ chim Hà nội. Cuối cùng ông tìm thấy nó ở cửa hàng chim chợ Mơ. Dựng cái xe đạp ông bước vào cửa hàng. Con chim nhận ra ông chủ thì nhảy tung tóe trong lồng, đập cánh phành phạch. Ông giả tảng xem xét mấy con họa mi nhưng mắt vẫn liếc về phía con Yểng thân yêu. Ông ngó nghiêng một hồi rồi hắng giọng hỏi tay chủ quán, anh ơi nhà mình có yểng non bán không? Tay chủ quán làu bàu, bố già hỏi hay nhỉ, mùa này lấy điếu đâu ra Yểng non. Có con yểng già kia bố có lấy thì lấy. Nó biết nói rồi đấy.

Bao nhiêu tiền hả anh?

Hai trẹo cả lồng, không mặc cả.

Ông không nói câu gì dắt xe ra về. Vừa đạp xe ông vừa nghĩ: hai triệu có mà điên. Con yểng ấy mình nuôi gần chục năm rồi, không bị bắt trộm chắc cũng sắp chết già, điên mà bỏ ra hai tháng lương hưu…

Sáng hôm sau ông pha ấm trà ra sân ngồi uống. Tự nhiên ông thấy trống vắng. Ông nhớ tiếng con yểng lảnh lót gọi Ông Ninh Ớooi. Chén trà tự nhiên đắng ngắt. Vớ cái mũ ông dắt xe ra cổng.

Đạp xe gần chợ ông rẽ vào mua mẩu thịt vụn. Ông vào hàng chim hôm qua. Tay chủ quán liếc nhìn ông rồi mặc kệ. Ông cho con chim ăn hết mẩu thịt rồi thủ thỉ, mày rao đi nào: ai chai chè đồng nát bán điiiiiiii. Con yểng ngúc ngoắc cái đầu rồi cất giọng lanh lảnh: Aiiiiiiii chai chè đồng nát bán diidddiiiiiiiii.

Tay chủ hàng chim ngồi bật dậy. Hắn nhìn ông rồi hỏi: ông là chủ cũ con chim này à?

Vâng anh ạ. Tôi nuôi con này gần chục năm nay, tuần trước thì bị ăn trộm mất.

Nể ông là chủ cũ tôi cho ông chuộc với giá là trẹo rưỡi. Thế là hữu nghị lắm rồi.

Ông tần ngần. Ông xót ruột quá. Ông bảo tay chủ quán: tôi có năm trăm anh cho tôi chuộc. Giống yểng này sang tay chủ mới là nó nhịn ăn đến chết. Không bán cho tôi thì anh cũng chả bán được cho ai đâu. Anh bán chim còn lạ gì loài yểng. Anh để cho tôi năm trăm nhé?

Thôi bố già biến đi cho tôi nhờ. Sáng ngày ra đã lắm chuyện. Tôi mua vào đã trẹo tư mà bố giả năm trăm bọ. Thôi ông biến đi.

Ông thở dài rồi đạp xe ra về. Con đường bỗng xa hun hút…..

Rồi mấy ngày sau đó, ngày nào ông cũng đạp xe lên chợ Mơ. Ông cho con chim ăn, ông chơi với nó cả sáng. Cứ ai đến mua chim là ông giật mình thon thót. Ông sợ người ta mua mất con yểng yêu quí của ông. Ông chờ đến kỳ lương hưu…

Sáng nay ông vui lắm, đút túi triệu rưỡi lương hưu ông gò lưng đạp như bay lên chợ Mơ. Ông mò vào hàng chim. Nhìn quanh không thấy con yểng đâu. Ông quay sang tay chủ quán. Hắn không nhìn ông chỉ nói cụt lủn.

Bán rồi!

Ông thẫn thờ dắt xe ra về, đi ngang qua đống rác ông thấy con yểng của mình nằm đó. Ông nhặt nó lên vuốt nhẹ. Ông thì thào : Tao xin lỗi mày yểng ơi, ba ngày hôm qua tao không lên với mày được. Tao phải trông bà lão. Bà ấy ốm.

(Copy trên mạng)

Thursday, January 17, 2013

Thế giới của Willard Wigan qua lỗ kim ...

Willard Wigan

Willard WiganMBE (born 1957) is asculptor from BirminghamEngland, who makes microscopic art. His sculptures are typically placed in the eye of a needle or on the head of a pin. A single sculpture can be as small as 0.005 mm (0.0002 in). [1] In July 2007 Willard Wigan was honoured by HRHPrince of Wales with an MBE for his services to art.[2]


 Oscar tượng vàng




Hulk


Ben Hur


Monroe


The Simpsons


Elvis


Alice in the wonderland


Statue of liberty and King Henri VI


The last supper


Nelson Mandela






Sent from my iPhone

Tuesday, January 15, 2013

Một bài viết của Eros

Lời giới thiệu: anh Công Thành cho biết Eros chính là "truyền nhân" của anh Hùng Sơn B (i Đỏ), TN tìm trên mạng và thấy Eros là một tay trẻ tuổi tài cao, lầu thông kinh sách kể từ Vật lý đến Triết lý văn chương nhiếp ảnh kiếm hiệp tiểu thuyết gia vv và vv xứng đáng vơi danh hiệu "con nhà tông ..." 
Sau đây xin giới thiệu một bài viết về Nguyên lý bất định trong vật lý và toán học của Eros.
Trong bài có nói về những sai lầm của Einstein về các vấn đề:
1- Vũ trụ không giãn nở (Einstein thừa nhận sai và rút lại hằng số vũ trụ Cosmological constant)
2-Không có nguyên lý bất định và liên đới (entanglement) trong cơ học lượng tử - Bất đồng sâu sắc với Bohr và Shrodinger bằng câu nói: Chúa không chơi xúc xắc (God does not play dice) và Bohr mỉa mai lại rằng: Đừng bảo Chúa phải làm gì...(Don't tell God what to do)
3- dù sao sai lầm "vĩ đại" của Einstein (hằng số vũ trụ) lại có thể là khởi đầu của một kỷ nguyên vật lý mới khi thuyết cơ học lượng tử hoàn thiện được chính mình nhờ chứng minh được sự tồn tại của trường Higg. Căn nguyên của Trọng trường là bí ẩn quan trọng nhất của vật lý.

Mời các cô chú bác XDTV xem bài viết của thế hệ thứ hai  (second generation) trothaykhai




Luật chơi của khoa học là cái xác định


Trước khi cơ học lượng tử ra đời, tất cả những gì dính dáng đến khoa học đều là xác định: khoa học là tập hợp những nhận thức của loài người về thế giới tự nhiên và sự nhận thức đó phải được thể hiện dưới dạng những định luật chính xác, rõ ràng. Mức độ chính xác, rõ ràng của một lĩnh vực nhận thức nói lên chất lượng khoa học cao hay thấp của lĩnh vực nhận thức đó. Toán học được coi là có chất lượng khoa học cao nhất, vì lý lẽ của nó được coi là chính xác rõ ràng nhất. Do đó, mức độ áp dụng toán học trong mỗi lĩnh vực khoa học cụ thể cũng được nhiều người coi là thước đo chất lượng khoa học của lĩnh vực đó. Chẳng hạn, chất lượng khoa học của vật lý được coi là chỉ đứng sau toán thôi, và không biết tự bao giờ, trong tâm lý của nhiều người đã hình thành thứ tự chất lượng khoa học như sau:



Toán, vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế...






Tất nhiên, bạn có thể không tán thành cách sắp xếp thứ tự đó nếu bạn không lấy toán học làm thước đo chất lượng khoa học. Mặt khác, tuỳ theo sự phát triển của mỗi lĩnh vực trong mỗi thời kỳ, thứ tự sắp xếp trên có thể thay đổi. Chẳng hạn, có khả năng, chất lượng khoa học của kinh tế học sẽ vượt hoá học và sinh học, vì kinh tế học hiện đại ngày càng phải sử dụng nhiều công cụ toán học phức tạp. Nhưng trong mọi trường hợp, các nhà Toán học luôn được an ủi bởi sự suy tôn của người đời rằng: "Toán học là ông hoàng của các loại khoa học."




Một số người sùng bái sự thước đo khoa học đến mức tuyên bố rằng: sinh học trước Mendel không phải là một khoa học, bởi vì toán học chỉ có mặt trong các sinh học kể từ các nghiên cứu di truyền của Mendel mà thôi.

Karl Marx cũng nhấn mạnh đến vai trò của toán học trong các khoa học. Bộ Tư bản của ông được coi là cột mốc đánh dấu thời điểm kinh tế học trở thành khoa học, bởi vì đó là lần đầu tiên, các qui luật kinhtế đượcphát biểu mô tả một cách định lượng. Tuy nhiên, phải đợi đến vài chục năm gần đây các giải Nô ben về khoa học mới được trao cho các nhà kinh tế học. Phải chăng vì đến lúc đó, kinh tế học mới sử dụng nhiều đến phân tích toán học ?




Một số người không công nhận Kinh dịch là một khoa học thực sự, vì các nguyên lý của nó không được định lượng bằng các công thức chính xác của toán học. Một số nhà khoa học đã cố gắng toán học hoá Kinh dịch, nhưng có vẻ như, công trình của họ không được đông đảo các nhà khoa học chú ý. Phải chăng vì những trình bày toán học đó không đủ thuyết phục? Một số người khác nói rằng ý đồ toán học hoá Kinh dịch là không tưởng, xuất phát từ chỗ không hiểu bản chất các tư tưởng Phương Đông.




Gần gũi hơn, tư tưởng về cái xác định trong khoa học có thể thấy nhan nhản trong môn toán của học sinh phổ thông. Các em thường xuyên phải tìm "tập xác định" của các hàm số mà các em phải đối mặt. Toán học của các em không chấp nhận phép chia cho số 0, vì kết quả vô nghĩa, hoặc bất định. Toán học rất "sợ" cái bất định!




Trong thiên văn học cũng vậy, người ta không thể chấp nhận những lý thuyết đưa ra tiên đoán kiểu "nước đôi". Thí dụ, đến ngày giờ nhất định nào đó, một hành tinh nhất định nào đó sẽ phải xuất hiện tại một vị trí nhất định nào đó trên bầu trời. Các lý thuyết thiên văn, phải tiên đoán được được chính xác vị trí đó, thay vì tiên đoán nó sẽ ở đây, hoặc sẽ ở kia. Trên thực tế, thiên văn học thế kỷ 19 đã đạt được nhiều lỳ tích tiên đoán như thế, làm cho mọi ngưòi vừa khâm phục, vừa tin tưởng tuyệt đối vào khoa học. Từ đó, Pierre Laplace mới đưa ra lý thuyết nói rằng nếu biết trước trật tự vũ trụ tại một thời điểm nhất định, ông sẽ có thể tiên đoán được chính xác trật tự vũ trụ tại bất cứ một thời điểm nào khác. Lý thuyết này được gọi là chủ nghĩa tất định Laplace( Laplace''s determinism). Mọi tính toán của lý thuyết này đều dựa trên các định luật cơ học của Newton - một khoa học về chuyển động và tương tác giữa các vật thể trong không gian dưới dạng những công thức toán học chính xác. Tất nhiên, những tiên đoán của Laplace phải dựa trên một giả thiết cơ bản cho rằng những định luật ràng buộc vũ trụ hôm nay sẽ mãi mãi đúng, nói cách khác, các định luật vũ trụ là bất biến - vũ trụ bị ràng buộc bởi các định luật xác định. Vì thể, chỉ nghĩa tất địnhLaplace, thực chất là sự phát triển tư tưởng xác định trong khoa học đạt tới đỉnh cao mà thôi. Tuy nhiên, nếu muốn nói đến đỉnh cao nhất của tư tưởng này, phải nói tới Albert Einstein.




Chúa không chơi trò xúc xắc




Năm 1921, trong dịp đầu tiên đến thăm nước Mỹ, khi nghe thấy tiếng đồn rằng người ta đã khám phá ra sự tồn tại của ether, Einstein lập tức phản ứng bằng câu nói bất hủ: "Chúa rất khôn ngoan tinh tế, nhưng Ngài không ranh mãnh". Lý do vì nếu quả thật có ether thì thuyết tương đối đặc biệt của ông sẽ sụp đổ. Chẳng bao lâu sau, ông đưa ra tuyên ngôn tương tụ, nhưng còn bất hủ hơn:

" Chúa không chơi trò xúc xắc"( God not plays dice), để chống lại nguyên lý bất định của cơ học lượng tử.
Vâng, nếu con xúc xắc là biểu tượng của cuộc đỏ đen, may rủi, bất định, thì Chúa của Einstein không chơi trò xúc xắc! Chúa của ông là Đấng Sáng Tạo vũ trụ, người ban hành ra những định luật xác định buộc tất thảy những gì hiện hữu trong vũ trụ phải tuân theo. Nhiều lúc ông gọi Chúa của mình là "Ông Cụ" ( The Old One) và khát vọng cháy bỏng trong tâm can của ông là hiều được ý nghĩ của "Ông Cụ" như chính ông thường nói ra trên cửa miệng, tức là khám phá ra những định luật xác định thống trị một phần hay toàn bộ vũ trụ!

Thiên tài có một không hai của ông đã giúp ông thoả mãn một phần khát vọng đó: hàng loạt những khám phá vĩ đại đó đã đưa ông lên vị trí một trong những bộ óc thông minh nhất của nhân loại, nhân vật số 1 của thế kỷ 20. Ông là con người của huyền thoại.




Tất cả những khám phá của ông đều thể hiện rõ tính xác đinh của của các định luật tự nhiên, kể cả Thuyết tương đối đặc biệt (1905) lẫn Thuyết tương đối tổng quát (1916). Trong một vài tài liệu, tôi thấy có người trình bày Thuyết tương đối của Einstein như là một cái gì đó bất định của Tự nhiên. Đó là một nhầm lẫn lớn, vì thuyết tương đối là một lý thuyết xác định: nó cho phép tiên đoán chính xác các hiện tượng thiên văn, vũ trụ. Sự chính xác trong các tiên đoán đạt tới mức kinh ngạc, điển hình như tiên đoán vị trí của các ngôi sao ở gần mặt trời trên bản đồ thiên văn trong các kỳ nhật thực, để từ đó xác định được chính xác độ lệch của tia sáng khi nó đi ngang qua gần mặt trời.




Trong khoa học, nếu coi tư tưởng xác định là cổ điển, tư tuởng bất định là hiện đại, thì Einstein là con người cổ điển bậc nhất, bảo thủ bậc nhất, mặc dù ông luôn là biểu tượng vĩ đại nhất của tư tưởng cách mạng trong khoa học. Trong suốt cuộc đời, kể cả trước lúc ra đim không bao giờ ông công nhận nguyên lý bất định của thuyết cơ học lượng tử.




Einstein là người ngoan cố và tự ái quá chăng? Không, trong đời, đã có lúc ông phạm sai lầm trong học thuật, nhưng khi nhận thấy mình sai, ông đã khảng khái công bố trên báo chí rằng ông đã sai (trường hợp tranh luận với Friedman về vũ trụ dãn nở). Nhưng với nguyên lý bất định, không bao giờ ông cho rằng mình sai. Theo ông, nguyên lý này chỉ thể hiện sự bất lực của khoa học trong việc khám phá ra những qui luật xác định trong thế giới lượng tử thôi.




Nguyên lý bất định nói rằng bạn không thể nào tiên đoán được chính xác vị trí của một hạt cơ bản tại một thời điểm cho trước, giống như các nhà thiên văn tiên đoán chính xác vị trí của một ngôi sao tại một thời điểm cho trước. Bạn chí có thể tiên đoán điều đó theo một xác xuất nào đó mà thôi. Einstein không đồng ý điều đó. Theo ông, nếu vật lý không tiên đoán được chính xác kết quả, thì không phải bản chất bất định của Thế giới lượng tử mà chỉ vì vật lý chưa làm tròn "bổn phận" của mình mà thôi. Ông cố gắng bịa ra rất nhiều ví dụ tưởng tượng để chứng minh nguyên lý bất định sai. Nhưng không may cho ông, Niels Bohr, người bảo vệ khổng lồ của nguyên lý bất định, đã "ăn miếng trả miếng" đâu ra đấy mỗi khi Einstein tung ra các thí nghiệm tưởng tượng của mình. Trong nhiều cuộc "tranh hùng " giữa hai nhân vật thiên tài này, nói chung Einstein thua, nhưng ông chỉ coi đó là cái thua tạm thời. Ông vẫn quyết phục thù. Rất tiếc ông đã ra đi trong khi chưa khuất phục được trường phái bất định. Nhưng lịch sử cho đến nay cũng chưa dám tuyên bố dứt khoát Einstein sai, mặc dù cơ học lượng tử liên tục đạt được những chiến công vang dội, thu phục được hầu hết trái tim và khối óc các nhà vật lý. Thật vậy, tư tưởng Einstein không chết, bằng chứng là vẫn có những trường phái hiện nay ủng hộ Einstein, tìm cách chứng minh nguyên lý bất định sai. Chẳng hạn, nhiêu nhà vật lý cho rằng cái gọi là bất định đó thực ra chỉ là hiện tượng rối lượng tử( quantum entanglement) mà thôi. Và hậu thế ngày nay tìm cách dàn hoà: kết hợp Thuyết tương đối tổng quát của Einstein(một lý thuyết mô tả những qui luật xác định của vũ trụ) với Cơ học lượng tử của Heisenberg (một lý thuyết mô tả tính bất định của thế giới lượng tử) thành một lý thuyết chung. Họ gọi lý thuyết kết hợp này là Lý thuyết về mọi thứ (Theory of Everything).




Nói theo ngôn ngữ triết học, thì sự hoà giải của hậu thế là đi tìm một sự kết hợp giữa hai cực đối lập. Nếu hai cực này chỉ là hai cực "trái ngược nhau" mà thôi, thì tuyên bố của Niels Bohr có thể là gợi ý mở đường:"Trái ngược không có nghĩa là mâu thuẫn, chúng bổ sung cho nhau". Nhưng nếu hai cực này là hai cực mâu thuẫn với nhau, thì sự kết hợp là bất khả. Đông học nói: Âm Dương đối lập nhưng hài hoà trong Thái Cực. Phải chăng sự kết hợp của lý thuyết Einstein với lý thuyết Heisenberg chính là tham vọng biết được Thái Cực, tức là biết được Trời - Đất. Tham vọng này e có thái quá không?
Trong khi tôi còn bán tín bán nghi, thì đùng một cái, một khám phá lớn gần đây được công bố rầm rộ trên báo chí, sách vở, internet đưa ra một tuyên ngôn trái ngược với tuyên ngôn của Einstein: " Chúa không chỉ chơi xúc xắc trong cơ học lượng tử, mà trong cả nền tảng của toán học!". Đó là tuyên ngôn của Gregory Chaitin, nhà toán học nổi tiếng của IBM.




Số Ômêga và hiện thực ngẫu nhiên của Chaitin



Trong tháng 7 vùa qua, một Hội nghị Quốc tế về khoa học computer đã diễn ra tại Dijon, Pháp. Trong hội nghị này, một nhà khoa học Úc gốc Việt là giáo sư Kiều Tiến Dũng tại Đại học Swinburn, Melbourne, đã trình bày một khám phá mới của ông liên quan đến một có số kỳ lạ, . Mở đầu báo cáo, ông viết" Một trong những nghiên cứu gây ngạcWgọi là số Omêga , thông qua mộtWnhiên nhất trong khoa học tính toán gần đây là sự khám phá ra số nhánh của Lý thuyết thông tin thuật toán."




Thật vậy, sự khám phá đã gây nên một cú sốc lớn trong giới khoa học, bởi lẽ cho thấy toán học không phải là một hệ thống xác định như nguời ta vẫn tưởng, mà hoá ra cũng chứa đựng tính ngẫu nhiên giống cơ học lượng tử. Vậy là gì?
Đó là một con số do Gregory Chaitin tìm ra vài năm gần đây dựa trên việc phát triển định lý Godel và Sự Cố Treo Máy của Alan Turing (1). Godel khẳng định mọi hệ logic khép kín đều không đầy đủ( bất toàn), và trong toán học vẫn tồn tại những định lý đúng nhưng không thể chứng minh. Một biểu hiện cụ thể của Định Lý Bất Toàn là Sự Cố Treo Máy: không thể đoán trước một chương trình computer liệu có thể bị dừng lại hay chạy vòng quanh mãi hay không. Từ bài toán của Turing, Chaitin đặt vấn đề: Hãy tính xác xuất để một chương trình computer được chọn ngẫu nhiên trong số tất cả các chương trình có thể sẽ bị dứng là bao nhiêu. Ông gọi xác xuất đó là Ômega. Rõ ràng Ômêga tồn tại, vì trong thực tế, một chương trình có thể bị dừng, có thể không. , là một số thực lớn hơn 0, nhỏ hơn 1. TuyWTheo định nghĩa xác xuất, Ômega nhiên, chúng ta không thể bao giờ biết nó cụ thể bằng bao nhiêu, vì theo Sự Cố Treo Máy của Turing, không thể đoán trước một chương trình có thể bị dừng hay không. Tóm lại, nó là một số có thật, hiện hữu, nhưng không thể tính được, hoặc không thể biết được. Đây là chuyện chưa từng có trong toán học. KHông tồn tại bất cứ thuật toán nào cho phép tính được các chữ số của Ômega. Nếu viết trong hệ nhị phân, sẽ là một dãy gồm toàn các số 0 và 1 kéo dài vô hạn. Nếu coi 0 tương ứng với đồng xu sấp, 1 tương ứng với đồng xu ngửa, lập tức bạn sẽ thấy không có thuật toán nào cho phép tiên đoán được kết quả của chuỗi "sấp/ngửa" vô hạn của Ômega.




Từ đó, Chaitin đi đến 2 kết luận hết sức quan trọng:




- Trong toán học tồn tại những con số ngẫu nhiên không thể tính được(uncomputable), hoặc không thể biết được (unknowable). Kết luận này tương đương với kết luận của Godel: Trong toán học tồn tịa những định lý đúng, nhưng không thể chứng minh.




- Vì những con số mang bản chất ngẫu nhiên không tính được là số thực, mà số thực là nền tảng của số học, tức là nền tảng của toán học, do đó tính ngẫu nhiên( randomness)nằm trong nền tảng của toàn bộ khoa học!
Vì thế, không có gì để ngạc nhiên khi Chaitin đã gây nên một cú sốc trong thế giới khoa học lớn đến chừng nào. Tạp chí 



New Scientist cảnh báo: " Ông ấy(Chaitin) đã làm tiêu tan toán học bằng một con số duy nhất. Và đó chỉ mới là sự khởi đầu thôi.. Đây là một tin không tốt lanh đối với nhưng nhà vật lý đang mong muốn tìm ra sự mô tả đầy đủ và chính xác về vũ trụ. Toán là ngôn ngữ của vật lý, dó đó khám phá của Chaitin ngụ ý rằng không thể nào có một Lý Thuyết Về Mọi Thứ được."




Nếu Chaitin đúng thì có nghĩa là không thể tồn tại một lý thuyết xác định của toàn vũ trụ, bởi vì vũ trụ mang tính ngẫu nhiên nhiều hơn là xác định. Thật vậy, theo Chaitin, những định lý, định luật mà khoa học đã khám phá được thực ra quá lắm cũng chỉ giống như những hòn đảo hoặc quần đảo ngoài biển khơi, trong khi cái ngẫu nhiên và bất định chính là biển cả mênh mông! Ở đây, bất ngờ, ta gặp lại tư tưởng củaLaplace : "Những điều ta biết thật ít ỏi, những điều ta không biết thì mênh mông", mặc dù Laplace là tác giả của thuyết Tất Định Vũ Trụ.




Trên một góc độ khác, kết luận của Chaitin hoàn toàn phù hợp với kết luận của Lý Thuyết Hỗn Độn( Theory of Chaos). Lý thuyết này nói rằng mức độ hỗn độn của vật chất trong vũ trụ càng tăng lên, trật tự ngày càng giảm đi (định luật Entropi). Vì thế, chẳng cần đến nguyên lý bất định của cơ học lượng tử cũng có thể thấy rằng nhiều hiện tượng vũ trụ sẽ không thể tiên đoán một cách xác định được.

Có thể cái xác định chỉ là những chân lý cục bộ mà thôi, trong khi cái bất định là chân lý toàn phần. Vì thể, ta chỉ có thể nhận biết được cái cục bộ, chứ không thể biết được chính xác cái toàn phần. Tham vọng biết chính xác cái toàn phần là bất khả. Nhưng đó là điều may mắn, vì nhờ thế cuộc sống mới đáng sống, bởi lẽ niềm hạnh phúc khám phá sẽ không bao giờ chết !

Eros

Visible but not available

(1) Chú thích của TN
Trong bài viết của Eros (TS Nguyễn Hải Sơn) có nêu tên nhà toán và logic học Alan Turing (không phải During mà Marx và đệ tử Engels "chống báng" :-)))
A. Turing là một nhà toán học vĩ đại cha đẻ của lý thuyết máy tính hiện đại với định nghĩa chính thức (formalise) khái niệm "thuật toán" và "tính toán" ( concepts of algorithm and computing). Ông giải mã được mật mã Enigma của hạm đội tầu ngầm Đức quốc xã trong thế chiến hai. Bi kịch thay trong thời bình A. Turing không "giải mã" được bộ luật hình sự cổ hủ của nước Anh bảo thủ năm 1952:
A. Turing bị xét sử vì homosexuality act mà thời đó bị coi phạm pháp.
Thay vì phải vào tù, ông lựa chọn tiêm hooc môn nữ tính vào người một hình thức "tự thiến hoá học" (chemical castration) để không vi phạm.
Hai năm sau 1954, A.Turing từ giã cõi đời bằng một liều thạch tín. Hưởng dương 42 tuổi.
45 năm sau đó năm 2009 Thủ tướng Anh Ông Gordon Brown đã thay mặt chính phủ Anh chính thức Xin lỗi trước công luận về việc "đối xử tàn tệ với A Turing" và đúng nửa thế kỷ từ ngày A. Turing bị kết án Chính phủ Anh đã ra đạo luật chính thức "ân xá" cho A. Turing. (Một chính phủ biết xin lỗi dân)

Monday, January 14, 2013

Thơ Phạm Hữu Quang




Giang Hồ

Tàu đi qua phố, tàu qua phố
Phố lạ mà quen ta giang hồ
Chẳng lẽ suốt ngày bên bếp vợ
Chẻ củi, trèo thang với … giặt đồ
*
Giang hồ đâu bận lo tiền túi
Ngày đi ta chỉ có tay không
Vợ con chẳng kịp chào xin lỗi
Mây trắng trời xa trắng cả lòng
*
Giang hồ ta ghé nhờ cơm bạn
Đũa lệch mâm xuông cũng gọi tình
Gối trang sách cũ nằm nghĩ bụng
Cười xưa Dương Lễ với Lưu Bình
*
Giang Hồ có bữa ta ngồi quán
Quán vắng mà ta chửa chịu về
Cô chủ giả đò nghiêng ghế trống
Đếm thấy thừa ra một gốc si
*
Giang hồ mấy bận say như chết
Rượu sáng chưa thưa đã rượu chiều
Chí cốt cầm ra chai rượu cốt
Ừ. Thôi. Trời đất cứ liêu xiêu
*
Giang hồ ta chẳng hay áo rách
Sá gì chải lược với soi gương
Sáng nay mới hiểu mình tóc bạc
Chợt tiếng trẻ thưa ở bên đường
*
Giang hồ ba bữa buồn một bữa
Thấy núi thành sông biển hoá rừng
Chân sẵn dép giày trời sẵn gió
Ngựa về. Ta đứng. Bụi mù tung …
*
Giang hồ tay nải cầm chưa chắc
Hình như ta mới khóc hôm qua
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà.

Phạm Hữu Quang, 5-1991